Tố Hoài – Mỗi ngày một ĐIỂN TÍCH

0
5216

dien-tich-van-hocĐIỂN TÍCH VĂN HỌC với dung lượng 1001 điển tích trên 624 trang giấy khổ 21×14 (cm) Nxb Thanh Niên, năm 2013.
Là cuốn sách mang tên ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC đầu tiên xuất hiện trên văn đàn.
Khác với những cuốn Điển cố Văn học (ví dụ của tác giả Đinh Gia Khánh chủ biên và cộng sự).
Lời Tựa sách, trích dẫn các định nghĩa về Điển tích: “Điển tích là sự việc chép trong kinh sách cũ”- (Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội -1977). Hay “ Điển tích: Câu chuyện đời trước được dẫn lại một cách cô đúc.– (Từ điển Tiếng Việt 2011, Vietlex-Trung tâm Từ điển học Nxb Đà Nẵng).
Tác giả mượn lời Nhà văn Anh, Samuel Butler (1612-1680) :
Định nghĩa là bao quanh mảnh đất mơ hồ của tư tưởng bằng bức tường từ ngữ.
Thường ngày ta xử dụng nhiều từ ngữ. Đôi khi hiểu nghĩa bóng mà quên nghĩa thực của nó. Ví dụ do dự, hy sinh, lãnh tụ, ngựa quen đường cũ, tầm thường… Ngày nay cũng đã hình thành nhiều điển tích mới từ “…bề dày lịch sử đậm đặc chiến công. Những tên đất, tên người, sự việc, cố kết với những kỳ tích lịch sử và cả truyền thuyết. Nhiều điển nhiều tích được đưa vào trang sử chói lọi hay trên các ấn phẩm chuyên ngành, rồi xử dụng rộng rãi trong văn học”. Tác giả Tố Hoài đã chọn đưa vào sách.
Cấu trúc sách, tác giả đã chia theo mẫu tự A, B, C…. V,X, Y. theo chữ đầu của tên mỗi điển tích. Phần mục lục chỉ ghi mục lục tên người trong điển tích, kèm các số trang liên quan.
Sau mỗi điển tích, tác giả nêu ví dụ mà nhà văn, nhà thơ đã xử dụng.
Xin giới thiệu mỗi ngày một  điển tích văn:

A

A Di Đà Phật
Tiếng Phạn (Sanskrit) : Amitabhâ Buddha.
A: vô, không. Di đà: lượng.
Tên hiệu của Phật: Sáng suốt vô cùng. Thọ vô hạn.
Kết quả hình ảnh cho hình ảnh cúng phậtKinh A Di Đà: Có một thế giới gọi Cực Lạc. Ở đấy có một vị Phật tên Di Đà. Cực lạc thế giới là nước của A Di Đà Phật. Nơi chỉ có điều vui sướng mà không có điều khổ hạnh.
Nguyễn Công Trứ (1778-1858), hiệu Hy Văn. Người làng Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh – Câu đối:
Xin chứng minh cho, Nam vô A Di Đà Phật
Có giám sát đó, Đông trù tư mệnh táo quân!

An Nam
.      Huyện lệnh Nam Hải là Triệu Đà thực hiện tiếp mưu đồ của Tần Thủy Hoàng sau 39 năm chiến bại. Tới năm 179trCN mới chiếm được Âu Lạc, xưng Nam Việt vương. Lần đầu nước ta bị Tàu đô hộ.
Tháng 8 – 679, Đường Cao tông Lý Trị (628-683), đặt sáu đại đô hộ phủ: An Đông, An Tây, An Bắc, An Vu, Bắc Đình nên đổi tên nước ta là An Nam đô hộ phủ từ năm 679-757 và 766-865. T
Năm 1164 nhà Tống phong Lý Anh tông là An Nam quốc vương, khi tên nước ta vẫn là Đại Việt..
.      Dưới thời thuộc Pháp (1887-1945) nước ta bị chia 3 kỳ. Trung kỳ còn gọi An Nam là phần đất do triều Nguyễn cai quản diện tích khoảng 150.200km2, với cố đô Huế. Về hình thức, An Nam là quốc gia trong khối Liên hiệp Pháp.
.      Một số tác phẩm mang chữ An Nam: An Nam vũ cống (Dư điạ chí) Nguyễn Trãi viết trong 10 ngày vào năm 1434. Gồm 54 mục. Nguyễn Thiên Ứng tập chú. Nguyễn Thiên Tích cẩn án. Lý Tử Tấn thông luận.
Yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Versailles, tháng 6-1919. Ký tên Nguyễn Ái Quốc.
An Nam tạp chí, người sáng lập, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939). Thư ký tòa soạn Ngô Tất Tố. Số đầu tiên ra ngày 1-7-1926 số cuối 1-3-1933. Ra được 48 số.
Nhà thơ Tú Mỡ – Giời đầy Nguyễn Khắc Hiếu (họa thơ):
Tội nặng nhất trần gian
                         Là bắt anh Khắc Hiếu
                         Làm tạp chí An Nam.

Áo gấm đi đêm
Y cẩm dạ hành
Sách Y cẩm Dạ hành:
Hạng Vũ đóng đô ở Thành Dương. Trương Lương cho tiền trẻ con để chỗ nào cũng hát:
Kim hữu nhất nhân cách bích diêu linh, chỉ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Phú quý bất quy cố hương, như y cẩm dạ hành.”  – Nay có người ở bờ vách rung lục lạc nghe tiếng mà chẳng thấy người. Giàu sang mà không về quê khác nào mặc áo gấm đi đêm.
Hạng Vũ nghe hát động lòng nhớ quê, rút quân về đóng ở quê Bành Thành. Nhờ thế, Lưu Bang tiến chiếm được Quan Trung.
Nhà thơ Hữu Thỉnh, họ Nguyễn, sinh 1942. Quê Tam Đảo, Vĩnh Phú – Đường tới thành phố (trường ca):
… Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy, cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc. Vẫn được tiếng là người ở vậy.
Nhưng anh tôi vẫn còn, anh tôi che cho ngọn đèn khỏi tắt. Hai mươi năm áo gấm đi đêm

Áo gấm về làng
Y cẩm hoàn hương.
        Nam sử – Truyện Lưu Chi Lân : Vũ đế nói với Lưu Chi Lân: Mẹ của khanh đức độ cao cả. Nay cho khanh y cẩm hoàn hương (áo gấm về làng) để trọn đạo nuôi dưỡng mẹ một cách hiển vinh.
Nước ta vinh quy áo gấm vua ban cho người đỗ Tiến sĩ, trong cuộc thi Đình trân trọng từ đời Lê Thánh Tông. Đã trở thành nét đẹp văn hóa đời xưa. Trang phục được quy định theo thứ bậc sau :
Đệ nhất giáp: Tiến sĩ hạng nhất gọi Tiến sĩ cập đệ hoặc tam khôi (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa). Ban mũ phác đầu cánh chuồn ở phía sau đề tam sơn bằng nhau. Đai Trạng nguyên bịt bạc 1 lạng. Bảng nhãn bịt bạc 9 đồng cân. Thám Hoa bịt bạc 8 đồng cân. Tiến sĩ cập đệ bọc lụa tím. Hoa bạc ban Trạng Nguyên 9 cành 9 đồng cân. Bảng Nhãn hoa bạc 8 cành 8 đồng cân. Thám Hoa, hoa bạc 7 cành 7 đồng cân. Ao may bằng vải Đoạn Tuyền.
Đệ nhị giáp: Tiến sĩ hạng nhì gọi Tiến sĩ xuất thân hay Hoàng giáp. Mũ như tiến sĩ hạng nhất. Đai bịt đồng thau. Hoa bạc 6 cành 6 đồng cân. Áo may vải Ô sa.
Đệ tam giáp: Tiến sĩ hạng ba gọi đồng Tiến sĩ xuất thân, hay đồng Tiến sĩ. Mũ ban không có đuôi. Đai bịt như hạng hai. Hoa bạc 5 cành 5 đồng cân. Áo như hạng hai.
Nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008). Người gốc phố Hàng Nâu, Nam Định – Thượng Đế thì cười (chương 29):
Hắn mong mỏi được gặp lại bố và mẹ già còn khỏe mạnh, còn tỉnh táo chỉ để thoả mãn một khao khát rất tầm thường, rất xoàng xĩnh là được khoe mặc áo gấm về làng.

Áo giáp
Loại áo của chiến binh xưa. Áo cứng (giới) như mai (giáp) của con rùa, hay vảy con cá (lân). Nên còn gọi áo giới lân.
Nhà thơ Thu Bồn – Thơ nhờ em đặt tên:
Lá chắn của em là bầu trời
Còn áo giáp của anh là chính những vết thương.

Áo Mạnh Khương
Cổ tích Trung Hoa: Nàng Mạnh Khương được sinh ra trong quả bí từ vườn nhà họ Mạnh leo sang nhà họ Khương. Nàng tò mò ra ngõ xem sự ồn ào thì gặp chàng trai tên Vạn Hỷ Nương trốn bắt đi xây Vạn lý Trường thành chỉ vì câu đồng dao bâng quơ: Trên đời có Vạn Hỷ Nương, một người có sức đảm đương muôn người. Vạn Hỷ chạy, trượt chân rơi, lóp ngóp dưới hồ. Nàng dắt lên đưa về nhà. Duyên trời. Nàng lấy làm chồng.
Việc lộ. Chàng bị bắt khi đang trốn trong chuồng trấu nhà nàng. Một đêm, nàng mơ chồng kẹt cửa vào nhà nói rét lắm. Nàng bèn đan áo, quyết đem cho chồng. Không quản tấm thân nhi nữ mỏng manh trước chông chênh, giá lạnh. Song Vạn Hỷ đã chết vùi dưới chân Trường thành như bao người khác. Nàng khóc. Nước mắt rơi vào xương Vạn Hỷ. Xương trắng hồng lên. Càng khóc, càng làm đá long đất lở, lộ đầy trắng xương người. Tần Thủy hoàng si tình muốn lấy nàng, phải nhận làm lễ cầu siêu cho Vạn Hỷ như điều kiện nàng giao. Lễ xong, Mạnh Khương lên cầu gieo mình xuống dòng sông cuộn siết mang theo chiếc áo…
Nhà thơ Tố Hữu. (1920-2002)–Trên đường thiên lý:
Nàng Mạnh Khương xưa bơ vơ may áo rét cho chồng đắp Trường thành Vạn lý.

Áo Trọng Do
Trọng Do, tự Tử Lộ. Người ấp Biện nước Lỗ. Học trò giỏi của Khổng Tử. Ông được ghi trong 24 người hiếu thảo nhất Trung Hoa: “Phụ mẫu cung cam chi, Ninh từ bách lý lao, Thân hoàn thân dĩ một, Do niêm cựu cù lao”.
Trọng Do không quản hàng trăm dặm đường gian khổ đi đội gạo, với tấm áo bạc sờn mưa nắng, để kiếm tiền nuôi cha mẹ già.
Khi được Sở vương trọng dụng, thì lại tưởng nhớ công cha mẹ thuở hàn vi khó nhọc mà mong được phụng dưỡng.
Cao Bá Quát (1808-1855). Người làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội – Tài tử đa cùng phú:
….Áo Trọng Do bạc phếch, dãi xuân thu cho đượm sắc cần lao,
Cơm Phiếu Mẫu hẩm sì, đói tuế nguyệt phải ngậm mùi tân khổ.

Áo vải, cờ đào
Tôn Sĩ Nghị thống xuất 29 vạn quân Thanh do Mẫn đế Lê Chiêu Thống cầu viện, ngày 17-12-1788 đã tới Thăng Long.
Ngày 21-12-1788 Nguyễn Huệ cho đắp đàn ở núi Bân, nam thành Huế, tế trời đất lên ngôi Hoàng đế. Chiếu:
“…Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất. Vốn không có chí làm vua. Chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn. Mong mỏi được vua hiền để cứu đời, yên dân. Vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng…”
Ngày 26-12-1788 Quang Trung đến Nghệ An lấy thêm quân. Ngày 30-1-1789 (mùng 5 tết Kỷ Dậu) trận quyết chiến Ngọc Hồi, tướng giặc Hứa Thế Thanh, Thượng Duy Thăng tử trận.
Kết thúc đại phá quân Thanh. Quang Trung ngồi trên lưng voi, áo bào còn vương khói lửa tiến vào Thăng Long gặp vua Lê.
Lê Ngọc Hân (1770-1799), công chúa 21 của vua Lê Hiển tông và bà Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, Từ Sơn, Bắc Ninh – Ai Tư vãn (khóc chồng):
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.

Âu ca
Bàn về công đức người hiền, Mạnh Tử viết: “Bất âu ca Nghiêu chi tử, nhi âu ca Thuấn.”- Không hát khen con vua Nghiêu (vì không là người hiền) mà ngợi ca con ông Thuấn (vì
hiền tài). Âu: Nhiều người cùng hát một lần.
Phan Bội Châu – Tỉnh quốc dân phú:
Ba vuông sánh với bảy tròn, hội quân thần ra tay trí trạch,
Nước đồng chảy thông nước bể, đời thái bình mở hội âu ca.

Âu Cơ
Con vua Đế Lai giống như Tiên ở động Lăng Dương (Thanh Thủy, Phú Thọ). Nàng có y thuật tuyệt vời thường đi khắp nơi chữa bệnh cho những người nghèo khó. Có lần gặp quái vật được Lạc Long Quân đánh quái cứu nàng.
Lấy Lạc Long Quân, sinh bọc trăm trứng. Nở trăm người con trai. Bà đem 50 người con về trang Hiền Lương (Hạ Hòa, Sơn Tây) khai hoang trồng lúa, trồng dâu, dệt vải… mở rộng ruộng nương…. Cuối cùng mẹ Âu Cơ về sống ở Hạ Hòa.
Ngày 25 tháng Chạp năm Nhâm Thìn bà trở về Trời.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, (Hải Dương) sinh 1943. Người làng Ưu Điềm, Phong Điền, Thừa Thiên – Đất nước :
Đất là nơi chim về. Nước là nơi Rồng ở.
Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng.

Âu Lạc
Năm Giáp Thìn (257trCN), Hùng Duệ vua Hùng thứ 18 của Lạc Việt và Thục Phán thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt đánh thắng cuộc xâm lược nhà Tần. Hợp hai bộ tộc thành nước Âu Lạc. Hùng Duệ giữ ngôi vua. Sau này truyền cho dũng tướng trẻ Thục Phán. Thục Phán xưng An Dương vương. Kinh đô lPhong Khê. Rồi đô chuyển xuống đồng bằng, xây thành Cổ Loa, thuộc Đông Anh, Hà Nội.
Năm 221trCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung nguyên, đến 218trCN bắt đầu đánh Âu Lạc. Chưa thắng, y bị chết.
Đầu đời Hán, viên huyện lệnh Triệu Đà của nhà Tần, người gốc Chân Định, Hà Bắc (Trung Quốc) còn sót lại tiếp tục mưu đồ thôn tính nước Âu Lạc. Âu Lạc bị mất vào tay Triệu Đà năm 179 trCN.
Nhà thơ Bằng Việt (Nguyễn Việt Bằng) sinh 1941. Người Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội – Gương mặt:
Cha ông ăn miếng trầu từ Âu Lạc, Văn Lang,
Dạy giữ lấy sắc tươi của nghĩa tình thắm đỏ.

Ấp cây
Bảo chu đãi thố.
Sách Hàn Phi Tử – Thiên Ngũ đố: Nước Tống (1113-286 trCN) có một nông dân đang cày ruộng. Bỗng thấy con thỏ chạy nhanh va vào cọc gãy cổ chết. Anh ta liền nhặt mang về. Từ đó anh ta cứ ra ấp cây chờ thỏ (bảo chu đãi thố) chạy tới.
.     Vũ Quốc Trân (Tú mền Đại Lợi). Người gốc làng Đan Loan, Bình Giang, Hải Dương – Bích Câu kỳ ngộ (truyện thơ):
.                                    Trông mong đã trót một giờ,
.                                 Ấp cây mãi thế mà chờ cũng quê.

Ấp Phượng
Thời Tam quốc (Ngô, Thục, Ngụy) Bàng Thống (179-214) tự Sĩ Nguyên, trước khi làm mưu sĩ cho Lưu Bị, ông đi ở ẩn tự xưng Phượng Sồ (chim Phượng non), náu mình, gọi ấp Phượng.
Nguyễn Hữu Chỉnh (1829-1887). Người Đông Hải, Nghi Lộc, Nghệ An – Trương Lưu hầu, phú:
Đường báo quốc nhờ lưng Xích đế, tiệc Nam cung đã vin tiếng bay rồng,
Chước bảo thân men gót Hoàng công, miền bắc Thành lại tìm nơi ấp phượng.

 

B

Ba đấng
1. Quân, sư, phụ.
2. Luận Ngữ :“Ích giả hữu tam, tổn giả hữu tam. Hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn, ích hỹ ! Hữu biền tịch, hữu thiện nhu, hữu biền nịnh, tổn hỹ! ”- Có ba đấng người ích mà cũng có ba loại người hại. Người ngay thẳng, người thật lòng, người hiểu biết nhiều, đó là đấng có ích. Loại giả bộ oai nghi, loại ưa chiều nịnh, loại hay xúc xiểm, đó là loại hại vậy.
Nguyễn Thượng Hiền (1868-1926). Người làng Liên Bạt, Hà Đông – Phú Cải lương:
        Sóng cạnh tranh lai láng dưới hoàn cầu, người muốn nọ, kẻ muốn kia, không ai giống đâu, sống một nết chết một tật.
        Đường giao thiệp mở mang trên đại lục, khôn cũng nhiều, dại cũng lắm, trông đó thì biết, người ba đấng của ba loài.

Ba điều sợ
Luận Ngữ:“Khổng Tử viết: Quân tử hữu tam úy: úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn.”- Người ta có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ người tài, sợ lời của bậc thánh nhân.
Nguyễn Cư Trinh (1716-1767). Người An Hòa, Hương Trà, Thừa Thiên:
Dương Quan Tây còn sợ có bốn hay,
Khổng Phu tử những dạy ba điều sợ.

Ba mưoi sáu phố phường
Hà Nội băm sáu phố phường
Hàng Gạo, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.
Ba mươi sáu là số lượng định biên ở thời Lê sơ thuộc phủ Phụng Thiên, được Nguyễn Trãi nhắc tới một số trong Dư địa chí. Là khu phố cổ hình bàn cờ. Giới hạn phía bắc: phố Hàng Đậu. Phía nam: phố Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Gỗ, Hàng Thùng. Phía đông: phố Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải. Phía tây: phố Phùng Hưng.
Nhà văn Thạch Lam (1909-1942) với Hà Nội 36 phố phường, và Nhà giáo Dương Quảng Hàm (1898-1942) tên phố đã thành thơ: Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay.
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn.
Phố mới Phúc Kiến, Hàng Ngang
Hàng Mã. Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng.
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè.
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà.
Dạo quanh đến phố Hàng Da
Trải xem hàng phố thật là cũng xinh.
Đa phần, từ chữ hàng bởi mỗi một phố đều mang đặc trưng buôn bán một loại hàng hóa như Hàng Đào bán tơ, vải (vải điều, đào). Song có tên phố mà người Hoa từ thế kỷ XV, đến buôn bán, tụ tập lại, xây hai cái cổng chắn ngang đầu đường và đóng cổng mỗi tối gọi hàng Ngang. Hiện thân lịch sử bị biến đổi dần. Số phận tên phố cổ, không còn Hàng Lọng (Lê Duẩn), Hàng Đẫy (Nguyễn Thái Học), Hàng Nâu (Trần Nhật Duật), Hàng Bột (Tôn Đức Thắng), Hàng Kèn (Quang Trung), Hàng Cỏ (Trần Hưng Đạo)…
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 -1976). Quê gốc làng Phù Ủng, Mỹ Hào, Hưng Yên – Nhớ về Hà Nội vàng son:
Ba mươi sáu phố ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng hoa vĩ đại
Năm cánh xòe trên năm cửa ô.

Ba nghìn thế giới
Vũ trụ quan đạo Phật có rất nhiều thế giới. Mỗi thế giới có cả thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai và không gian đông, tây, nam, bắc.
Lời Phật: Thế giới của ta hiện ở, hợp một ngàn thành Tiểu thiên thế giới. Một nghìn Tiểu thiên thế giới hợp thành một Trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên thế giới hợp thành một Đại thiên thế giới. Ngoài Tam thiên thế giới ấy là Đại la thiên thế giới.
Gia Môn (Nguyễn Ngọc Tấn 1885-1945). Người làng Thanh Trà, xã Hải Quang, Hải Hậu, Nam Định – Am thanh cảnh tĩnh:
Cảnh bụt rộng ba nghìn thế giới,
Trong hoàn cầu hương khói thiên thu.

Ba nhân
Cổ khúc Hạ lý Ba nhân. Người Ba Thục ở quê nhà.
Theo Văn tuyển – Đối Sở vương vấn của Tống Ngọc: Có một người đến hát bài Hạ lý Ba nhân ở đô thành nước Sở. Là bài hát phổ thông, ca từ dân dã thông tục. Giai điệu đồng ca nên nhiều người hát và vỗ tay hòa cùng. x. Dương xuân bạch tuyết
Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947). Người làng Thăng Bình, Tiên Phước, Quảng Nam – (không đề):
Ba nhân khúc nọ nhiều người họa
Bạch tuyết ca rồi chỉ ngóng trông.

Ba que
Ba que xỏ lá.
Theo Nguyễn Lân – Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam: Là trò lừa bịp có từ thời Pháp thuộc. Kẻ chủ trò nắm trong tay một cái lá, có xỏ một cái que, đồng thời chìa ra hai que khác. Ai rút được que xỏ lá là được cuộc. Nhưng kẻ chủ trò mưu mẹo, người chơi bao giờ cũng thua, mất tiền đặt cược.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Người làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên – Mất cái ví (truyện ngắn):
A, quân này thâm thật. Mới dính tí Hà Nội đã học lối ăn nói ba que.

Ba sao
Cổ thi:
.                               Tam điểm như tinh tượng,
.                               Hoành câu tự nguyệt tà.
.                               Phi mao tòng thử đắc,
.                               Tố Phật dã do tha.
Ba chấm giống vì sao, vòng ngang như nguyệt khuyết (tức chữ tâm). Bụi trần mà bỏ hết, Phật cũng bởi tâm ra.
Truyện Kiều, Nguyễn Du chiết tự chữ Tâm (Thúc Kỳ):
.                                       Đêm thu gió lọt song đào,
.                           Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.

Ba sinh
1. Theo Tùy – Đường diễn nghĩa: Đời Đường có Lý Nguyên ẩn sĩ, kết bạn với sư Viên Trạch chùa Tuệ Lâm. Ông viết tên lên hòn đá:“Tam sinh thạch”. Hẹn sinh thác ba lần sẽ gặp nhau ở chùa Thiên Trúc, Hàng Châu. Rồi Lý Nguyên đến chùa Thiên Trúc chỉ thấy chú mục đồng ngồi trên tảng đá hát:“ Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, Thử thân tuy dị tính trường tồn.”- Hồn xưa gửi đá ba sinh. Thưởng trăng, ngâm gió thường tình bàn chi. Thẹn mình, bạn cũ tình di, Thân tuy khác nhưng tình thì dài lâu. Hát rồi bỏ đi.
2. Sách Quần Ngọc chú: Tỉnh Lang chơi chùa Nam Huệ nằm mơ thấy mình đang du chơi chốn Bích Nham. Tỉnh hỏi thầy chùa ngồi niệm chú trước cây nhang đang cháy dở. Thầy đáp: Xưa có người đi cúng đã thắp cây nhang này. Nhang chưa tắt mà người ấy đã qua ba kiếp. Kiếp đầu làm quan phủ ở Kiến Nam đời Huyền Tông. Kiếp thứ hai làm thư ký ở Tây Thục đời Đường Hiến Tông. Kiếp thứ ba sinh ra tên Tỉnh Lang…
Tỉnh Lang giật mình tỉnh dậy bán tín, bán nghi.
Hồ Xuân Hương (sinh khoảng 1738~1745). Người gốc Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An – Khóc ông phủ Vĩnh Tường:
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.

Ba thu
Kinh Thi – Thái Cát:“ Bỉ thái cát hề, nhất nhật bất kiến, như tam nguyệt hề! Bỉ thái tiêu hề, nhất nhật bất kiến, như tam thu hề! Bỉ thái ngải hề, nhất nhật bất kiến, như tam tuế hề!” (=nhất nhật tam thu)- Người ấy đi hái dây sắn, một ngày không gặp như ba tháng trời. Đi hái lá cỏ tiêu, một ngày không gặp, dài như ba mùa thu. Đi hái lá ngải một ngày không thấy, như xa tới ba năm.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

Ba thước kiếm
Thế Thuyết tân ngữ: Vương Tử Kiều (con Chu Linh vương thời Xuân Thu) tu tiên, mộ ở Kinh Lăng. Đến thời Chiến Quốc, đào lên chỉ thấy một thanh kiếm ba thước. Có kẻ toan lấy trộm thì kiếm kêu vang như hổ rống rồi bay vụt lên trời. Ba thước kiếm, chỉ chung đức kiếm khách, hoặc kiếm hiệp tức người tài, dũng. x. Kiều – Tùng.
Giai thoại:
Lê Tư Thành, tức Hoàng tử Hiệu. Con vua Lê Thái tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao. Chính trị tài ba. Sùng văn, chuộng võ. Nổi danh kinh, sử, luật, lịch, thi, thư, họa, nhạc. Là vua Lê Thánh tông (1460-1497)
Nhân tết, ông giả thường dân thăm dân chúng đón Xuân. Thấy một nhà không treo đèn, ông liền vào. Biết gia đình mặc cảm với nghề đổ thùng vệ sinh, ông động viên: Nhà bác đây là nhà sang trọng nhất mà nghề cũng vẻ vang nhất. Nếu có câu đối dán lên thì cũng hay bậc nhất. Nói rồi ông đề câu đối tặng:
Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự.
Đề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm!
Khoác một áo bào đảm đang khó khăn thiên hạ. Cầm ba thước kiếm tận thu lòng dạ thế gian.

Ba-xí ba-tú
Biến thể từ tiếng Pháp: Passe-partout: tầm thường, nhạt nhẽo.
Ví dụ: Mot passe-partout: Lời nói nhạt. Khuếch khoác. Sai ngoa. (Cũng có người cho rằng từ: parsi-partout).
Nhà văn Hương Nhu họ Nguyễn, sinh 1943, tại Hải Phú, Hải Hậu, Nam Định-Ký ức miền chân sóng (Tiểu thuyết, chương 13):
… Chẳng ai lạ gì những lời ba-xí ba-tú, lôi đất trời vào làm chứng, biện bạch cho hành vi tội lỗi của mình.

Bắc Lỗ
Giặc Tàu ở phía bắc hay xâm lược nước ta.
Lĩnh Nam chích quái: Truyện thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt: Lê Hoàn (?- 1005) năm 981, chống giặc Tống. Ông mơ thấy hai thần anh em Trương Hống và Trương Hát (tướng của Việt vương Triệu Quang Phục) đến giúp. Rồi vào canh ba đêm 30 tháng 10, trời mưa gió sấm chớp đùng đùng, thấy đoàn quân áo trắng từ nam sông Bình Giang tới, lại có đoàn quân áo đỏ từ bắc sông Như Nguyệt lại. Thần nhân tàng hình trên không lớn tiếng ngâm thơ. Quân Tống nghe, sợ run phải bỏ chạy, đạp xéo lên nhau mà chết. Bài thơ như sau:
.                               Nam quốc sơn hà nam đế cư
.                               Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
.                               Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược,
.                               Bạch nhận phiên thành phá trúc hư.
Trần Quang Khải (1241-1294) –Đền thần chính khí Long Đỗ:
.                               Nguyện trượng thần uy thôi Bắc Lỗ
                                Đốn linh hoàn vũ yến nhiên thanh.
Xin hãy ra uy trừ giặc Bắc, Dựng xây thiên hạ mãi thanh bình.

Bổn phận
Bối sự.
Thời Tấn, Đào Khản đi nhậm quan Ngư hộ. Mẹ dặn:
“Khổng viết: Quân tử động nhi thế vi thiên hạ đạo. Hành vi thế nhi thiên hạ pháp. Ngôn nhi thế vi thiên hạ tắc. Viễn chi tắc vọng, cận chi tắc bất yếm chi bối sự dã.”- Khổng tử dạy : Mỗi hành động làm cho mọi người theo. Việc làm là gương cho mọi người. Nói năng làm mẫu cho mọi người. Người xa muốn gần, người gần không chán. Là bổn phận làm quan đó.
Bổn phận ở đây là lòng nhân ái với đạo lý làm người.
Thấy mẹ thích ăn cá, Đào Khản gửi về biếu mẹ gói cá khô. Bà gửi trả lại kèm thư nhắc:“ Phải giữ bổn phận thanh liêm”.
Đào Khản (259-334) tự Sĩ Hành người Thẩm Dương đến ở Tầm Dương. Mồ côi cha Đào Đan nhà Đông Ngô. Mẹ người họ Trạm, một người mẹ tuyệt vời dạy dỗ chăm chút học hành. Một lần quan Hiếu liêm Phạm Quý đến nhà, bà phải cắt tóc bán lấy tiền đãi khách. Nhờ tu dưỡng đích thực Đào Khản đỗ tới chức Đô đốc Đại Tướng quân lẫy lừng thời Tấn. 40 năm quân ngũ, nổi tiếng đức độ, liêm khiết. Lúc thấy nhàn, ông chuyển 100 viên gạch ra rồi chiều chuyển vào để tránh nhàn cư vi bất thiện, tỏ rõ lòng trung.
Nguyễn Phi Khanh (1336-1408), phụ thân Nguyễn Trãi – Hỉ học sĩ Trần Nhược Hư:
“… Ưu quốc chính tu ngô bối sự.”-
Mừng học sĩ Trần Nhược Hư: Lo việc nước chính là bổn phận của chúng ta.

Bồng Đảo
Sử Ký – Phong Thiền sách: Ba ngọn núi Bồng Đảo, Phương Trượng, Doanh Châu trong biển Bột Hải xưa là nơi tiên ở.
Truyện Liệt Tử: Biển đông có 5 quả núi: Đại Dư, Viên Kiệu,
Phương Hồ, Doanh Châu, Bồng Lai (Bồng Đảo) cách nhau bảy vạn dặm, thường theo thủy triều lên xuống không được tạm dừng. Thượng đế sai thần Ngung Cường bắt 15 con ngao (rùa lớn) cất đầu đội giữ vững 5 quả núi ấy.
Sau này có một chàng câu cá nước Long Bá đến câu mất 6 con nên núi Viên Kiệu và Đại Dư trôi về bắc cực và bị chìm xuống biển cả.
Hồ Xuân Hương – Thiếu nữ ngủ ngày:
Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

Bờm
Một con người chân thực mà u mặc trong ca dao tục ngữ Việt Nam – Vũ Ngọc Phan ghi:
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy trâu,
Phú ông xin đổi một xâu cá mè.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mè,
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy lim,
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi năm xôi, Bờm cười !
Nhà thơ Nguyễn Công Bình, sinh 1956. Quê Thạch Hà, Hà Tĩnh – Tự tình trăng:
Ta – thằng Bờm chờ đêm hóa Cuội
Phất quạt mo hy vọng lên trời….

Bút hoa
Giang Yêm tự Văn Thông người Khảo Thành, nước Lương  thời Nam-Bắc triều. Làm việc suốt ba triều Tống, Tề, Lương. Năm 447, ông thảo văn bản cho đời Tề Cao đế Lỗ Đạo Thành. Chỉ ngoáy bút một cái là xong. Thơ viết nhanh như thần mà hay. Trước tác có Biệt phú, Hận phú…
Người ta đồn rằng ông nằm mộng thấy bút viết của mình thành bông hoa sen. Từ đó thơ ông làm thấy hay lên. Gọi là bút hoa hoặc mộng hoa.
Sau này, bút lực tự nhiên xuống hẳn. Người ta lại đồn thổi ông nằm ngủ mơ thấy một người tên Quách Phác đến nói: Văn Thông, cây bút của ta ở chỗ anh lâu rồi, anh trả lại ta thôi.
.    Nhà thơ Nguyễn Bính – Tiếng trống đêm Xuân:
.                                               …Khen ai e ấp tình quê,
.                                  Bút hoa chưa thảo gương thề còn nguyên.

Bút Tre
Bút danh Đặng Văn Đăng
Bút Tre còn có tên Đặng Văn Quang (1910-1987). Người Đồng Lương, Sông Thao, Vĩnh Phú. Tú tài triết học. Nguyên Bí thư thứ hai Đại sứ quán Việt Nam tại Romanie. Trưởng ty Văn hóa Phú Thọ. Bút danh Lục Y Lang trước năm 1945. Người đặt nền một trường phái thơ dân dã, ứng khẩu. Nhờ ngắt từ, biến thanh mà giá trị u mặc tăng thêm.
Theo Ngô Quang Nam, Bút Tre có tài ứng đối rất nhanh. Một lần vào năm 1975 đại hội Văn hóa Nghệ thuật lần thứ nhất tỉnh Vĩnh Phú. Đoàn Văn công Bến Tre của tỉnh góp diễn vở diễn Cô gái Bến Tre. Anh em văn nghệ xúm nhau ra vế đối:
Con cháu của Bút Tre, diễn vở Bến Tre, không có gì che, đành phải diễn.
Vì bí, họ đến gặp nhà thơ. Bút Tre cầm điếu cày, vê thuốc tra vào nõ, châm lửa kéo một hơi đã. Nhả khói xong liền đọc:
Các cô cùng quê cọ, tắm táp kỳ cọ, cầm cái cẫng cọ, cố mà kỳ!
Muốn nâng chất lượng văn hóa, ông sang xin lãnh đạo tỉnh cho mua cây đàn Piano. Người lãnh đạo cao nhất nói:
– Các anh chỉ vẽ chuyện. Đất Phú Thọ này thì chỉ có sắn!
Chuyện không thành. Oái oăm, một lần tướng Võ Nguyên Giáp về làm việc, nghỉ lại ở nhà khách. Vô tình hỏi có đàn Piano thì ông mượn gảy. Lãnh đạo tỉnh cho thư ký văn phòng sang chỗ Ty Văn hóa hỏi mượn đàn. Bút Tre nói:
– Đất Phú Thọ này chỉ có sắn thôi.
Anh thư ký ái ngại :
– Đây là yêu cầu của tỉnh ủy. Chuyện nghiêm túc. Không phải chuyện đùa.
– Vâng! – Ông Đăng cũng dứt khoát- Tôi cũng nói nghiêm túc đấy! Anh cứ về nói với các đồng chí lãnh đạo tỉnh rằng ông Đăng bảo văn hóa chỉ có sắn thôi!
Có lần Họa sĩ Ngô Quang Nam hỏi:
– Cái câu Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh, Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng thì sao?
Bút Tre trầm ngâm lặng đi nói, oan tớ hơn oan Thị Kính. Rồi thản nhiên ông ứng khẩu:
Bút Tre, văn nghệ không thừa nhận,
Thêm bao bịa đặt, cá nhân xuyên…
Nỗi oan trái đâu cần ai rửa,
Góc trời vằng vặc ánh trăng riêng!
.    Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, sinh 1940, tại Hà Nội – Văn đàn bi tráng (chương18):
.    Có về Phú Thọ nứa giang,
Gửi lời thăm mến đến chàng Bút Tre,
.    Thơ lĩnh xướng riêng một bè,
Mới thấy sức sống lời quê vô bờ!

C

Ca bồn
Gõ bồn mà hát. Bồn: một loại nhạc khí cổ.
Sách Trang Tử, thiên Chí Lạc 18:“ Bồn, ngoã phẫu dã. Trang Tử tri sinh tử chi bất nhị. Đạt ai lạc chi vi nhất. Thị dĩ thê vong bất khốc, cổ bồn nhi ca.”- Bồn là cái chậu gốm vậy. Trang Tử biết cái lẽ sống chết không phải là hai. Thấu đạt được cái nhẽ buồn vui chỉ là một. Nên không khóc chuyện vợ chết, lại gõ chậu mà hát.
Nhà thơ Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn – Quế Hải thi tập (câu đối):
.                      Giọt sương thu dạ nổi sầu lên, cất giọng ca bồn ai oán lắm.
                      Trận gió đông hàn rê thảm xuống, đau lòng trắc Hỗ xót xa thay.


Cán cân công lý

Theo Thần thoại Hy Lạp.
can-can-cong-lyThuở trái đất hình thành chỉ có các thần linh như thần Tiên tri Pronethues, thần Lửa Helios nữ thần Công lý Themis… Họ sống hoan lạc trên đỉnh Olympus dưới sự điều khiển của thần Zeus và được chiếu sáng của thần Mặt trời Apollo. Promethues lấy đất sét trộn nước nặn ra loài người với những nét đẹp nhất của các thần linh. Song loài người lại sống trong cảnh tối tăm, buồn thảm.
Thương tác phẩm của mình, Prometheus lấy trộm lửa của thần Helios ban cho loài người. Từ đó con người có cuộc sống tươi vui, sinh sôi nảy nở.
Thần Zeus biết, nên tức giận, sai nặn ra nàng Pandora hoàn hảo, tuyệt mỹ để lừa tặng Prometheus. Thần Tiên Tri đoán biềt, không nhận. Nhưng người em, Epimethues đã nhận Pandora cùng chiếc hộp kín với lời dặn tuyệt đối không được mở hộp. Rồi nhân chàng vắng nhà, chí tò mò đã xui nàng mở và các hạt giống chứa trong đó bay ra đó là những hạt Tội ác, Thù hằn, Ghen tị, Đói rách, Chiến tranh, Chết chóc… chúng nảy nở khắp nơi. May thay còn có hạt Hy vọng.
Nữ thần Themis phải làm việc rất nhiều. Biểu tượng đặc trưng giữ công lý: tay cầm kiếm quyền lực, giữ cán cân công bằng và chiếc khăn bịt mắt để nhằm khách quan, vô tư.
Thần Zeus và Themis có người con gái là Dike, nữ thần chân lý, lẽ phải và sự thật, trông coi trần gian. Vì mỗi ngày hạt giống sinh sôi quá nhanh đến mức hỗn loạn, thần Dike không cai quản nổi. Thần đã đổi tên Astreae (tinh cầu) để bay về trời. Công lý tuyệt đối đã bay xa, con người không có cánh nên không thể nào với tới, chỉ còn hy vọng vào cái cán cân…
Tố Hoài – Giải trình của Biển (Tiểu thuyết, chương 7):
… hiện rõ sự tắc trách của người giữ cán cân công lý. Vì thế nó không thể nhân danh bất cứ ai.

Cành dương
.      Tích Bá kiều chiết liễu: Đời Đường, cầu Bá, huyện Trường An, Thiểm Tây, Trung Quốc, mỗi lần đưa tiễn nhau, thường qua đây bẻ cành dương liễu tặng tiễn nhau. (=Chiết liễu).
Truyện Kiều: Sông Tần một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan được giải thích từ bài Tiễn Nguyên Nhị đi sứ Tây An của Vương Duy:
.                          Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
.                          Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
.                          Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
.                          Tây xuất Dương Quan vô cố nhân!
.                                             Sớm Vị Thành mưa rây bụi nhẹ,
.                                          Quán liễu xanh màu lá mới nguyên.
.                                              Khuyên người ly nữa cạn thêm,
.                                         Phía tây bạn cũ, Dương Quan đâu còn.
.                                                                      Phương Quang dịch.
Dương Quan, tên cửa ải ở Đôn Hoàng, Cam Túc.
Bài thơ này phổ nhạc tên Dương Quan tam điệp. Đưa vào nhạc phủ thường hát khi tống biệt, nên dùng cành dương(?)
.   Vương Duy (699-759), tự Ma Cật người huyện Kỳ, Sơn Tây. Công chúa mê đàn và say giọng hát Uất Luân bào của ông mà chọn làm chồng. Cùng em trai, Tể tướng Vương Tấn vang dậy Trường An. Nhờ bài thơ Ngưng Bích trì bày tỏ nỗi lòng mất nước nên xóa tội bị ép làm cho An Lộc Sơn.    Vương lập Nam Tông họa phái. Thơ viết nhiều về nhà Phật.
.        Chức cẩm thi của Nhược Lan (Bản dịch Nguyễn Gia Môn):
.                                         Cành dương thiếp đã vơi rồi
.                                  Đầy thềm hoa rụng ai người quét đây.

Cửa âm – dương
Kinh Dịch, thuyết Nhị nguyên: Hai sức mạnh chủ động và thụ động âm và dương trong sự phân đôi hiện ra như trời và đất, liên kết nhau (trong dương có âm và ngược lại) cụ thể trong con người.
Sự chết là sự phân đôi.
Từ cõi sống (dương) sang cõi chết (âm) phải qua cửa.
Phạm Thái (1777-1813) – Chiến “ Tung Tây Hồ ” phú:
Cửa âm – dương khép mở sớm khuya liền, cơ huyền diệu khó lường sinh với tử,
Xe nhật nguyệt dẩy dui xuôi ngược mãi, kiếp phù sinh khôn tính hữu hay vô.

Cửa Không
Cửa Phật là“Nhất thiết giai không.” Theo Trí Độ luận :
1. “ Không môn giả sinh không pháp không ”- Cửa không là sinh không pháp không.
2. “Niết bàn thành hữu tam môn sở vị không, vô lượng, vô tác”- Thành Niết Bàn có ba cửa gọi là không, vô tướng, vô tác.
Nguyễn Du – Truyện Kiều :
Tiểu thư rằng: Ý trong tờ,
Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không.

Cửa khuyết
Ngụy khuyết. Chỗ treo bản pháp lệnh ở cửa cung vua. Khuyết là cái lầu cao trên nóc cổng lớn.
Trang Tử:“ Thân tại giang hải chi thượng, Tâm cư ngụy khuyết chi hạ.”- Thân trên sông biển lòng dưới cửa khuyết.
Bản tục biên, quyển 16 (Đại Việt sử ký toàn thư):
Bọn Trịnh Tùng kêu khóc nói: “Anh thần là Cối vì quá đắm say tửu sắc nên làm mất lòng người sớm muộn thế nào cũng sinh loạn. Đêm nay họ mưu đoạt ấn, cướp binh quyền của thần nên dù lúc nửa đêm thần cũng phải chạy vào cửa khuyết.”

Cương mục
Cương: dây lớn của lưới. Mục: mắt lưới.
Một lối chép sử biên niên. Chữ viết lớn ghi chép sự việc. Chữ nhỏ hơn viết dưới giải thích sự việc viết ở trên.
Cứ mỗi câu cương liên tiếp câu mục như dây lưới và mắt lưới.
Cương Mục là tên sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bộ chính sử của nhà Nguyễn do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn (1856-1881). Gồm 53 quyển (5 quyển tiền biên viết về thời Hồng Bàng đến năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 xứ quân. 47 quyển chính biên từ năm 968 đến năm 1789 hết thời Lê Chiêu Thống).

Cương thường
1. Nho giáo: Cương là cái dây, giềng mối. Gồm tam cương: quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương.
Theo Luận hành, thường là đức tính thông thường. Gồm ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
2. Kinh Thư – thiên Thái Thệ, ngũ thường gồm nghĩa cả của người làm cha, lòng nhân từ của người làm mẹ, tình thân ái của người làm anh, lòng cung kính của người làm em và lòng hiếu thảo của người làm con.
3. Lão Tử – Đạo đức kinh (chương 38):“ Thất đức nhi hậu nhân. Thất nhân nhi hậu nghĩa. Thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ.”- Mất đức mới bày ra nhân. Mất nhân mới bày nghĩa. Mất nghĩa mới sinh ra lễ. Lễ chỉ là vỏ mỏng bề ngoài trung tín, là mầm mống rối loạn.
Nguyễn Trãi – Tự thán (bài 12):
.                                     Chữ học ngày xưa quên hết dạng
.                                     Chẳng quên có một chữ cương thường.

Cứu rỗi
Cơ Đốc giáo: là sự giải thoát khỏi sự câu thúc của tội lỗi và sự đoán phạt để có thể nhận lãnh sự sống đời đời của Thiên Chúa.
Kinh Thánh: Người cai ngục ở thành Phi-lip hỏi: “Tôi phải làm gì để được cứu?”. Câu trả lời của Đức Chúa Trời qua sứ đồ Phao-lô: “Hãy tin đức Chúa Jesus, thì ngươi và cả nhà sẽ được cứu rỗi!”
Nhà thơ Đoàn Văn Nghiêu – Đồng Châu, Tiền Hải, Thái Bình – Cứu rỗi những linh hồn:
Hỡi những vần thơ,
Hãy theo ta đi cứu rỗi những linh hồn đang tàn lụi giữa cõi đời dâu bể.

D

Da Cam
Tài liệu Ủy ban Khoa học Nhà nước, điều tra hóa chất độc của Mỹ ở miền Nam Việt Nam: …Hóa chất độc có tên Dioxin, được đánh dấu màu Cam (Agent Orange). Trong đó, chất cực độc có cấu trúc hóa học: 2,3,7,8 Tetrachlorodibenzoparadioxin (TCDD). Liều độc là một phần ngàn tỷ (part per trillion). Ngày 20-11-1961, Tổng thống Mỹ J. F. Kennedy đã bật đèn xanh bằng nghị quyết Operation Trail Dust (chiến dịch phun hóa chất độc). Là vũ khí hóa học nhằm chống lại phong trào giải phóng miền Nam của nhân dân Việt Nam. Song lại che đậy, đánh lừa các nhà khoa học và dư luận thế giới, chất Da cam/Dioxin chỉ làm trụi lá cây, giúp việc canh nông.
Kết quả hình ảnh cho hình ảnh nhiễm độc da camChất độc Da Cam rải thảm 10 năm (1961-1971): 45 triệu lít, trong đó có 170kg Dioxin nguyên chất làm 12 triệu herta đất và rừng của Việt Nam bị hủy hoại. Nguy hiểm hơn, đã gây họa diệt chủng. Người bị phơi nhiễm chất da cam, dị tật không chỉ ở thế hệ cha mẹ mà tới đời con cháu… không biết điểm dừng.
Nhà thơ Bùi Hưng Bang – Cái chết của thai nhi:
.                             Tại sao da cam giết con của ba?
                              Tại sao người lớn giết thai nhi nhỏ bé?

Da ngựa bọc thây
Dĩ mã cách khỏa thi.
Hậu Hán thư: Mã Viện (14trCN-49). Người Mậu Lăng. Lúc đầu nương nhờ Ngỗi Hiêu. Ngỗi chống Lưu Tú. Mã Viện tạo phản giúp Lưu Tú (6trCN-57) diệt thày Ngỗi. Khi y làm Thái thú Lũng Tây về, xin Mạnh Ký, một người túc trí lời khuyên. Ký nói:
–    …Với tuối tác của ngài nên ở nhà hưởng phúc lộc được rồi.
Mã Viện trả lời:
–      Nam nhi yếu đương tử vu biên dã, dĩ mã cách khoả thi hoàn táng, nhi hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ tai.- Làm trai chết nơi biên thùy thì lấy da ngựa bọc thây mà chôn, chứ lại có thể nằm trên giường trong vòng tay đàn bà con trẻ sao được.
.       Mã Viện đã từng dâng tấu xin lệnh chinh phạt Giao Chỉ. Năm 42, Mã Viện với chức Phục Ba tướng quân theo đường biển xâm chiếm nước ta, làm Thái thú Giao Chỉ sau Tô Định.
.        Trần Quốc Tuấn (1233-1300) – Hịch tướng sĩ, văn:
Dẫu trăm xác này bọc thây da ngựa, nghìn thân này phơi ngoài nội cỏ ta cũng cam lòng.

Do dự
Xưa, người nước Sở gọi con chó con là con do. Do theo chủ nhà. Nó đi trước, chờ sẵn gọi là dự. Đợi chủ không thấy thì nó chạy lui lại đằng sau. Cứ chạy tới chạy lui gọi do dự.
Khuất Nguyên – Ly Tao: “ Tẩm do dự nhi hồ nghi.”- Lòng do dự vì hồ nghi.
(Ly: gặp gỡ. Tao: lo lắng).
          Nhà văn Hương Nhu, sinh 1943. Quê Hải Hậu, Nam Định – Ký ức miền chân sóng (Tiểu thuyết, chương 9):
Thấy mẹ không đi, cu cậu như con do, tiến rồi lại lui, do dự.

Dùi đục chấm mắm cáy
Tục ngữ:“ Bầu dục đâu đến hàng thứ tám.”- Miếng ngon không chia tới hạng người xếp vào bậc thứ tám.
Ca dao:
Sáng ngày bầu dục chấm chanh,
Trưa gỏi cá gáy, tối canh cá chày.
Nước mắm cáy dân dã, không là sang trọng. Bầu dục phải chấm nước mắm ngon gia vị chanh mới phù hợp. Mắm cáy không tương xứng, sẽ vênh váo, khập khiễng nên thô thiển như dùi đục chấm….
Bầu dục bị biến âm thành dùi đục. Ngữ nghĩa mở rộng. Hiện được sử dụng thường trong dân dã và thấy trong văn chương truyền miệng Tuy nhiên trong văn chương viết xưa xử dung nguyên ủy từ bầu dục.
Đàm tục phú:
Chủng chẳng như bầu dục chấm mắm cáy muốn bậc kinh luân.
Chình chịch như khối đất ném ao bèo, toan bề thao lược.

Duyên thiên
Nhân sinh quan về việc nên chồng nên vợ do trời tác hợp.
Kinh thi – Đại Nhã: Đại minh viết Văn Vương lấy Thái Tự là do:“ Thiên tác chi hợp.” (=Duyên thiên) –Duyên trời.
Hồ Xuân Hương – Chửa hoang:
Duyên thiên chưa bén nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đành nẩy nét ngang?

Dương chi tĩnh thủy
1. Tục Ấn Độ, mến khách, chủ nhà đem ra cành dương chi (liễu) nhỏ và một bình tĩnh thủy (nước trong). Nhánh liễu để khách tua ra đánh răng. Nước trong, dùng để súc miệng. Vì vậy lúc hành lễ cúng Phật, cũng dâng dương chi và tĩnh thủy.
2. Theo Pháp uyển châu lâm, phép Phật dùng bảy thứ để trừ bệnh. Nhiên hỏa (đốt lửa). Tịnh thủy (nước trong). Tảo đậu (đậu rửa). Tô cao (cao rau tô). Thuần khôi (tro sạch). Dương chi (cành dương). Nội y (áo trong). Pháp sư lấy cành dương nhúng vào nước Cam lộ vảy lên người bệnh .
Nguyễn Du – Văn tế Thập loại chúng sinh:
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi.

Dương xuân bạch tuyết
Tuyết trắng dưới ánh sáng mùa Xuân.
Là ca khúc nổi tiếng do Sư Khoáng, tự Tử Giã, nhạc sư (thời Tấn Bình công 557-532 trCN) soạn. Tả truyện, có lần Sư Khoáng nói với Tấn hầu:“ Tiếng quạ và các tiếng chim nghe vui. Quân Tề đã rút lui”. Ông đã doán đúng.
Là khúc ca cao siêu, người nghe cần phải có cái tai âm nhạc. Ca từ văn tự sâu sa, cần phải có tri thức mới thấm nhuần được. Tống Ngọc – bài Đối Sở vương vấn. Sở vương hỏi:
– Tiên sinh dường như có chỗ thiếu sót chăng mà không thấy có mấy ai khen ngợi?
– Dạ, qủa có như thế – Tống Ngọc thưa – Xin đại vương tha tội. Như khách qua kinh đô, thoạt nghe khúc Hạ lý Ba nhân, người hòa theo có đến mấy ngàn. Khi nghe đến khúc Dương a Dạ lộ, người hòa rút xuống mấy trăm. Còn đến khúc Dương xuân bạch tuyết thì người trong nước bất quá chỉ còn vài chục người hát hòa theo (Kỳ vi Dương xuân bạch tuyết, quốc trung nhi họa giả, bất quá sổ thập nhân)…
Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn – Hải yến hà thanh:
Quản hiệp lựa dây văn dây vũ, phú Dương xuân, thơ Bạch tuyết, xuất kinh nhập sử khoan thai,
Đào nương ca tiếng nhỏ tiếng to, ngâm Xích Bích, tụng Hồi văn lên bổng xuống trầm êm ái.

Đ

Đa nghi Tào Tháo
1. Tào Tháo (155 -220 ) tự A Man. Thừa tướng đời Hán Linh đế. Cuối thế kỷ II, nhà Hán suy vi. Viên Thiệu mưu đoạt ngôi nhà Hán. Đổng Trác thấy thế, đưa quân vào Trường An phế Hán Thiếu đế (vừa thay Linh đế chết) lập Hán Hiến đế. Tào Tháo cướp Hiến đế đưa về Hứa Xương. Từ đó nạn cát cứ của các quan, tướng nhà Hán đã phá tan nước Hán. Đánh lộn, loại trừ nhau. Tới khi Tào Man chết năm 220 thì con là Tào Phi phế Hán Hiến đế (196-220), tự xưng Hoàng đế lập quốc hiệu Ngụy. Trung Hoa thành Tam Quốc: Ngụy, Ngô (Tôn Quyền) và Thục Hán .
2. Một lần Tào Tháo ngủ say. Cái chăn đang đắp bị rơi xuống đất. Người lính vệ thấy vậy tới cầm đắp lại. Nào ngờ Tào bật dậy cầm chiếc gươm luôn sẵn bên mình, quơ một cái. Đầu lính hầu rơi xuống đất. Tào lên giường ngủ tiếp.
3. Sau những ngày gian nan không nuốt nổi quân Thục, Tào Man ban mật khẩu “kê cân”. Chủ bộ Dương Tu nghe lỏm được bèn cho quân chuẩn bị rút lui. Có người hỏi tại sao? Tu đáp: Thừa tướng ban “gân gà”, muốn nói đất Hán Trung này khó nuốt trôi, mà vất đi thì tiếc. Nên việc rút quân chỉ là nay mai. Tào biết Dương Tu nói, lấy cớ. khép vào tội tiết lộ việc quân cơ để giết. Tháo thừa hiểu Dương Tu là tướng giỏi. Thông minh. Lý đoán trước mọi việc. Đó là mối họa cho Tào nên đã trừ hậu họa.
4. Xin dẫn ngọn bút La Quán Trung (Tam Quốc diễn nghĩa):
Tào Tháo dẫn Trần Cung đến nhà Lã Bá Xa, anh em kết nghĩa của bố mình. Bá Xa biết Tháo đang chạy trốn, nên nói với hai người:“ Nhà lão phu không có rượu ngon để lão sang làng bên kiếm chai về lai rai”. Nói xong vội vã cưỡi lừa đi.
Tháo và Cung ngồi chờ. Bỗng có tiếng mài dao ở nhà sau. Tào Tháo sinh nghi đến gần, nghe trộm. Chỉ nghe thấy tiếng trong bếp xầm xì:“ Trói mà giết hả?”. Tháo nghĩ, không ra tay trước tất bị hại. Thế là cùng với Trần Cung rút kiếm xông thẳng, giết sạch cả nhà Lã, tám mạng. Vào nhà bếp, thấy một con lợn đang bị trói chờ làm thịt, Cung nói:“Anh đa nghi. Giết lầm người tốt rồi”. Cả hai bèn lên ngựa vội rời khỏi nhà họ Lã. Đi được một đoạn thì gặp Bá Xa cầm rượu và rau cải trên đường về nhà. Tháo nói: “Là người có tội nên không dám ở lâu”. Bá Xa năn nỉ:“ Ở đây an toàn. Lão đã dặn người nhà giết lợn thết rồi. Hai cháu sao không ở lại được đêm? Mau trở lại đi!”. Tháo cứ giục ngựa đi thẳng. Được mấy bước, bỗng quay ngược, rút gươm chặn Bá Xa lại, hỏi: “Những người đến đằng trước kia là người nào vậy?”. Lã Bá Xa ngoảnh nhìn. Tháo đưa ngay một lát gươm cứa đứt đầu Lã. Trần Cung kinh ngạc bảo:“ Vừa nãy anh giết người vì lầm. Còn giờ anh giết ông ấy là sao?”. Tháo nghiêm mặt:“ Ông ta về nhà thấy thế sao chịu nổi? Nếu dẫn người truy đuổi thì ta gặp phải tai ương rồi!”. Trần Cung nói:“ Đã biết người ta có lòng tốt mà còn giết họ? Thật là bất nhân bất nghĩa!”. Tháo mặt lạnh như tiền:
Ta thà phụ lòng thiên hạ, chứ đừng để thiên hạ phụ lòng ta!”
Nhà văn Phan Tứ (Lê Khâm 1930-1995) Quê Quế Sơn, Quảng Nam – Mẫn và tôi:
– Đừng có nghĩ bậy, oan nó. Không hiểu con gái mà cứ đa nghi như Tào Tháo…

Đãi bôi
Mời rượu
Mạnh Tử: Nước Tề có anh chồng, mỗi lần đi khỏi nhà về là rượu say bí tỉ. Vợ hỏi, anh trả lời: “Giàu vì bạn sang vì vợ. Bạn với người giàu sang thì bạn phải đãi bôi thôi”. Song, người vợ nghi ngờ. Cả đời, nào có người gọi là sang đến nhà? Chị bèn rủ người thiếp của chồng cùng theo dõi. Thì ra anh lẻn đến cái nghĩa địa phía đông thành, xin đồ cúng lễ, hoặc thừa thãi để ăn. Thấy chồng ngật ngưỡng về, chị hỏi, anh vẫn vênh cái mặt lên: Bạn với kẻ giàu sang thì họ đãi bôi. Có chi mà hỏi lắm thế!
Từ đó, đãi bôi dùng để chỉ khách sáo, không thật lòng.
.       Trần Văn Nghĩa – Thế tục, phú:
Miệng ngọt lạt của anh như của chú, thương gì, thương cái cóc khô.
Tiếng đãi bôi con chị cõng con em, trọng gì, trọng con rùa mốc.

Đổi mới
Nhật nhật tân
Thành Thang (1767-1761 trCN) diệt vua Kiệt nhà Hạ. Lập nhà Thương (1766trCN) đô ở đất Bạc, Thương Khâu, Hà Nam. Ông luôn có ý thức đổi mới. Nên đã ghi trên chậu tắm (thang bồn) của mình nhằm nhắc nhở hàng ngày:
Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân.” – Nếu hàng ngày đổi mới thì càng ngày càng đổi mới, ngày nào cũng đổi mới.
Phan Bội Châu, trong bài Chúc tết Thanh niên:
Mới thế này mới là mới, hỡi chư quân.
Chữ rằng: Nhật nhật tân. Hựu nhật tân.
         Nhà thơ, bác sĩ Nguyễn Tất Tường, sinh 1934. Người làng Trung Hậu, xã Tân Sơn, Đô Lương, Nghệ An – Câu đối tết:
Năm mới tràn đầy sức sống mới, chọn cách mới làm ăn, xây dựng quê hương luôn đổi mới.
Ngày xuân ấp ủ ước mơ xuân, dồn tuổi xuân cống hiến, điểm tô đất nước thắm màu xuân!

Đường lệ
Loại thơ Đường lệ tương truyền do Chu Công Đán soạn, phổ nhạc để hát khi yến ẩm với anh em.
Kinh Thi -Tiểu Nhã: Hoa cây Đường Lệ nói về tình anh em.
Câu đối:
Đường lệ tề khai thiên tải hảo,
Xuân huyên tịnh mậu vạn niên trường..
Anh em hoa nở ngàn thuở đẹp
Mẹ cha vui khỏe vạn năm dài.

Đường ngắn nhất
Núi Chung Nam nằm phía tây thành Tây An, Thiểm Tây. Nơi nổi tiếng các nhân sĩ uyên thâm, đạo đức ở ẩn với thái độ từ quan như Phan Sư Chính, Tư Mã Thừa Trinh…
Thời Võ Tắc Thiên (684-705), lần ấy Lư Tạng Dụng đỗ tiến sĩ lâu rồi, chưa được bổ dụng nên nghĩ cách đi vào Chung Nam ở ẩn. Quả nhiên ông được mời cùng Thừa Trinh ra chấp chính. Thừa Trinh làm quan được vài hôm thì cáo quan cố về ở ẩn. Khi tiễn chân ông, có Tạng Dụng. Dụng trỏ về núi Chung Nam nói:
– Ở đó có điều kỳ diệu khác…
Thừa Trinh nghe thấy liền nở nụ cười lạnh lùng:
– Theo ta, núi Chung Nam là con đường tắt (Chung Nam tiệp kính) để đi tới cửa quan. (=Đường ngắn nhất).
Cổ thi :
Độc thư giả, cầu tri chi tiệp kính dã.”
Đọc sách là con đường ngắn nhất để đạt đến hiểu biết

Đường Thiên lý
Mạnh tử nói với Cảo tử: Đường mòn đi lâu tất thành đường lớn.
Đường thiên lý nước ta kể là đường lớn gọi quan lộ, hay đường cái, từ thời Lý Thái tông (1028 -1054). Được chia thành cung dài 15-20km, đặt trạm để chuyển giấy tờ công văn.
Các đời Trần, Lê dùng cho voi ngựa vận chuyển chiến đấu, nhất là thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Nhằm phục vụ cho vận động tác chiến nên đường được mở rộng.
Triều Nguyễn, đất nước mở mang. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị việc nối các con đường huyết mạch qua sông, vượt đèo, xuyên núi… được nâng cấp kéo dài thiên lý. Triều đình cho đắp “ Đường mặt rộng một trượng (4 mét), chân rộng hai trượng 5 thước ”. Các trạm có bảng hiệu, tiêu đề.
Từ năm 1828, cấp mỗi trạm có ngựa để đưa thư từ.
Nhà thơ Cao Quảng Văn, sinh 1946. Quê Quảng Điền, Thừa Thiên – Giữa lòng phố cổ:
…Tiếng hát trong veo tiếng cười giòn tan,
mẹ từ Nam ra theo đường Thiên lý.

Đường Trường Sơn
Lịch sử đường Trường Sơn hình thành từ thời chống Mỹ cứu nước. Bắt đầu là những con đường mòn hành quân và vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ chiến đấu. Cột mốc đầu tiên được ghi nhận từ thị trấn Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Sau này được thành lập binh đoàn 5-59 (tháng 5-1959) vừa giao liên hành quân vận tải, thực hiện mở rộng bảo vệ con đường.
Thất bại Chiến tranh đặc biệt, giặc Mỹ đánh ra miền Bắc ngày 5-8-1964, thì quân dân miền Bắc tổ chức quy mô hơn. Từng ngàn thanh niên nam, nữ thành đội Thanh niên xung phong vào tiền tuyến bảo vệ từng cung đường. Đáng kể là đợt Thanh Niên Xung phong của các tỉnh Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội… với hơn 1500 người tại Quảng trường 1-5 , Hà Nội, ngày 13-7-1965 .
Nhà thơ Nam Hà, sinh 1935 tại Nghệ An. Quê Hà Nội – Chúng con chiến đấu:
Đường dài đi giữa Trường Sơn
Nghe vọng bài ca đất nước.

Đường Ý đảm hàn
Lĩnh Nam chích quái – Truyện núi Tản Viên:
Núi Tản Viên phía tây kinh thành Thăng Long, cao 12300 trượng. Ba núi xếp hàng tròn như cái tán nên có tên ấy. Núi rất linh ứng. Cầu đảo cho mưa thuận gió hòa thật là ứng nghiệm.
Nhà Đường tuy đô hộ, song Đường Ý tông (833-873) rất lo mất vía. Phải cho tướng Cao Biền cũng là phù thủy cao tay đến yểm mạch núi Tản. Hắn mổ bụng cô con gái chưa chồng 17 tuổi, vứt ruột, cho bấc vào bụng… đặt trên ngai tế bằng trâu, bò. Hễ thấy cử động thì chém đầu.
Song, Cao Biền thấy thần Tản Viên cưỡi ngựa trắng ở trên mây, nhổ nước bọt vào mà bỏ đi. Biền về than với Ý tông:
“ Linh khí ở phương Nam không thể lường được. Ôi! cái vượng khí đời nào hết được ”.
Cao Bá Quát- Vịnh Tản Viên sơn:
.                                      Đường Ý đảm hàn, Cao thúc thủ
.                                       Nguy nhiên nam cực trấn Nam thiên.
Cao chịu bó tay, Đường khiếp đảm,
Phương nam chất ngất trấn trời nam!
.                            Khương Hữu Dụng dịch.

E

Em bé Đuốc Sống
Theo Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến (1945-1975):“ Đội viên cảm tử Lê Văn Tám mới 13 tuổi được giao nhiệm vụ giả câu cá, cắt cỏ bên sông (Thị Nghè) để quan sát. Đêm 17-10-1945 Tám tự quyết định một mình đánh kho đạn, lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và một bao diêm. Buổi sáng, chờ lúc sơ hở em tưới xăng vào khu vực kho đạn và châm lửa. Lửa cháy loang, một tiếng nổ long trời kéo theo hàng loạt tiếng nổ liên tiếp làm rung chuyển cả thành phố.
Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa tự biến mình thành cây Đuốc Sống đã hy sinh anh dũng.”
.   Nhà văn Nguyên Hồng – Cửu Long giang ta đi :
.                                      Mười sáu tuổi xanh
.                                      Em Đuốc sống đốt mình phá tan kho giặc.


Én nhà Vương, Tạ

Ngõ Áo Đen (Ô Y hạng) thời Tấn (265-419) ở phía nam Kiến Khang (Nam Kinh, Trung Quốc) có hai họ danh gia Vương Đạo, Tể tướng ba triều Đông Tấn và Tạ Dịch. Họ Tạ nổi tiếng từ thời Tam Quốc, nhất là từ lúc vua Ngô Tôn Quyền làm rể. Từ An Tây tướng quân Tạ Dịch và em là Đại tướng Tạ An đến Tạ Huyền (con Tạ Dịch với chiến công diệt 90 vạn quân Phù Kiên ở Hợp Phì) và hậu duệ, các thi tài Tạ Đạo Uẩn, Tạ Linh Vận, Tạ Liên…
Thật, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Theo thời gian, Ngõ Áo Đen chỉ còn phế tích thành nơi cư ngụ của chim chóc. Nhà thơ Lưu Vũ Tích (772-842), trước Ngõ Áo Đen đã cảm hứng:
Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.
Cựu thì Vương, Tạ thường tiền én,
Phi nhập tầm thường bách tính gia. –
.                                           Bên cầu Chu Tước cỏ hoa,
.                                     Ô Y đầu ngõ bóng tà tịch dương.
.                                           Én xưa nhà Tạ nhà Vương,
.                                   Lạc loài đến chốn tầm thường nhân gian.
.                                                                            Tản Đà dịch.
Nguyễn Trãi – Thơ Nôm:
.                                     Én từ nẻo lạc nhà Vương, Tạ
                                      Quạt đã hầu thu, lòng Tiệp Dư.

Ếch ngồi đáy giếng
Truyện ngụ ngôn: Có con ếch sinh ra từ trong giếng. Nhìn bầu trời qua miệng giếng nên tưởng mình là chúa tể của bọn sâu bọ sống cùng. Nó há miệng kêu thật to để bọn đàn em khiếp sợ. Một ngày mưa ngập nước, ếch nhoai được lên bờ. Nó nhâng nháo nhìn trời. Thì ra bầu trời to rộng hơn nó tưởng. Tuy nhiên ếch không tin. Nó cố hết sức gào, hy vọng trật tự cũ được xếp lại. Đang mải mê gào thì có con trâu đi qua vô tình dẫm bẹp.
Khảo dị:
        Sách Trang tử, thiên Thu Thủy, Tỉnh để chi oa: Ếch đáy giếng không thể nói được gì về biển cả.
Giai thoại:
Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, người làng Hoài Bão, Tiên Du, Bắc Ninh. Ông được cử đi sứ nhà Thanh. Thuyết lý bãi bỏ việc ép dân Việt phải búi tóc đuôi sam, đã thành công. Khang Hy, vua Mãn Thanh thấy Đăng Cảo hay chữ, bèn ra vế đối:
–    Lão khuyển lạc mao, do hướng đình tiền phệ nguyệt” – Chó già rụng lông còn ngóng ra sân sủa trăng.
Đăng Cảo mỉa mai bọn Mãn rằng:

–   Tiểu oa đoản cảnh, man sư tỉnh để khuy thiên”- Ếch con ngắn cổ, cũng ngồi đáy giếng nhìn trời.

G

Gạo châu củi quế
Viết về cuộc chiến giữa các chư hầu nhà Chu, Chiến Quốc sách ghi:“ Sở quốc chi thực quý ư ngọc, tân quý ư quế.” (= Tân quế mễ châu) – Ở nước Sở gạo đắt như ngọc, củi đắt như quế.
.           Hồ Chí Minh – Điền Đông (nằm giữa Tĩnh Tây – Nam Ninh):
.                                          Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,
.                                          Tân như quế dã, mễ như châu.
Cơm nhạt ba đồng ăn chẳng đủ,
Củi thì như quế, gạo như châu.
.             Nam Trân và Huệ Chi dịch

Giang hồ
Đầu tiên là từ của những ẩn sĩ tự xưng.
Sử Ký: “ Phạm Lãi thừa biển chu phù ư giang hồ.” – Phạm Lãi cỡi chiếc thuyền chơi phiếm trên sông hồ.
Anh tông Trần Thuyên (1276-1320) – Bình Chiêm Thành hoàn bạc Phúc Thành cảnh:
.                              Thuyền song nhất chẩm giang hồ hoãn,
                               Bất phục du trăng nhập mộng trung.
Đánh Chiêm Thành về đậu ở bến Phúc Thành: Bên gối trong khoang thuyền, lòng sông hồ êm ấm, cờ lệnh không hiện ra trong giấc mộng.
Giang hồ (Từ điển tiếng Việt): Sống phiêu lãng nay đây, mai đó.
.      Nguyễn Du – Truyện Kiều:
.                                    Giang hồ quen thú vẫy vùng,
                              Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.

Giao Chỉ
Thượng thư, cuốn sách cố nhất Trung Hoa ghi chữ Giao Chỉ đầu tiên trong phần Đại truyện:“ Phía nam giao chỉ, có Việt Thường quốc. Đời Thành vương (tức Cơ Tụng, vua thứ 2 nhà Chu ~1063-1021 trCN) họ qua ba lần phiên dịch đến giao hảo và hiến tặng chim Trĩ trắng”. Nghĩa của chỉ, là vùng đất phía nam giao. x. Nam giao.
Sử cũ ghi tên trong 15 bộ của nước Văn Lang (2879-257 trCN).
Khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc năm 179trCN, dùng để đặt một trong hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 111trCN nhà Hán diệt họ Triệu đổi thành Giao Chỉ  bộ. Năm 203 đổi là Giao Châu.
Tuy nhiên nhà Tống chỉ chịu phong cho Đinh Tiên hoàng Giao Chỉ quận vương, dù tên nước ta vẫn gọi Đại Cồ Việt.
Phạm Diệp (398-455) viết Hậu Hán thư, đã chú giải sai lời của Giả Quyên Chi ghi ở Hán thư về bàn chân người Giao Chỉ. Từ đó nhiều sử gia Trung Hoa có nhiều suy diễn lầm lẫn, sai lạc. Ví dụ:
–   Cho rằng Giao Chỉ dùng gọi tên người Việt cổ.
–   Các sách Hậu Hán thư, Từ nguyên, Từ Hải, lại viết chữ chỉ có bộ túc nên chữ chỉ trong Từ Hải giải thích được hiểu là chân, ngón chân, dấu tích, hay nền, móng (như cơ chỉ, trụ chỉ).
–  Bộ Thông điển của Đỗ Hưu, Giao Chỉ là người Nam di, ngón cái toạc, bàn chân đặt song song thì ngón cái giao nhau.
–  Từ nguyên (quyển Tý, tr. 141) cho rằng, Hy Lạp cổ có tiếng lân trụ, nghĩa là phía đông và tây liền mhau. Lại có tiếng đối trụ, nghĩa là phía nam và bắc đối nhau. Tên Giao Chỉ hợp vào nghĩa đối trụ. Dân tộc phương bắc gọi dân tộc phương nam cũng như một chân phía bắc, một chân phía nam đối nhau, v.v… và v, v…
Ngay cả năm 1868, đoàn thám hiểm Doudart de Lagrée, bác sĩ Thorel cũng nói: Hai ngón chân giao nhau là đặc điểm giống người Việt Nam.
Song những khảo cổ, hiện tượng này còn thấy ở người Malaysia, Thailand, Chinese, Arabien, người da đen… chỉ khác nhau ở mức độ. Và đi đến kết luận: Đó chỉ là hiện tượng biến dị (Variation atavique) do xương mọc không bình thường.
(Theo Trương Thái Du – Cổ sử Việt Nam)
Thơ cổ:
.                           Thuở từ
Giao Chỉ, Văn Lang
.                      Cùng  là Bách Việt họ hàng với nhau.

Gương mặt sạch
Thiết diện ngự sử.
Trong cơ quan quyền lực cổ có Lan Đài. Giữ trách nhiệm can gián vua và vạch lỗi các quan, giúp cho trong sạch.
Lan: cỏ lan thơm. Đài: đài hoa, cái lầu. Chỉ sự thanh tao, cao khiết.
Từ đời Tần, Hán đổi Lan Đài thành Ngự sử đài. Quan chức gồm Ngự sử Đại phu, Thị Ngự sử, Giám sát Ngự sử….
Tần thư, Nam sử: Quan Ngự sử nghiêm nghị, thẳng thắn, chí công vô tư được là Thiết diện Ngự sử (quan sử có gương mặt sạch). Ví dụ, Tục thông chí đời Tống viết : Tiến sĩ Triệu Biện, là quan Ngự sử, rất giản dị, thẳng thắn, không sợ quyền uy. Người đời gọi ông là quan Ngự sử có gương mặt sạch. Khi chuyển khỏi Thành Đô, ông chỉ đem cây đàn và con hạc.
Nước Đại Việt từ đời Trần Thái tông cũng có cơ quan ấy.
Nhà văn Nguyễn Khải – Thượng Đế thì cười (chương 3):
Cả hai lần hắn đều thất bại, mặt mũi lem luốc vì từ chỗ quyền lực chui ra làm sao còn giữ được gương mặt sạch.

Gương Tàu
Tây Kinh tạp ký: Thời Tần Thủy hoàng có treo ở cung tần cái gương soi hai mặt rộng 4 thước, cao 5 thước 9 phân gọi Chiếu Đảm kính. Cung nữ soi vào, ai có ý gian tà thì tim đập mạnh và mật to ra? (Thật ra là một trò xoi mói, chơi tâm lý!)
Khi Hạng Vũ tới (206trCN) cho dỡ mang đi đâu, không rõ.
Trần Văn Nghĩa (1777-1847) – Thế tục phú:
Ganh thiệt hơn xem bằng gương Tàu,
Mặt trơ tráo nhẵn như bầu dục.

Gương Thiềm
Hậu Nghệ, chồng của Thường Nga, được Tây Vương Mẫu thưởng thuốc trường sinh bởi có công bắn được 9 con quạ vàng (mặt trời) đem lại sự mát lành yên ổn cho dân chúng. Thường Nga thấy lạ, lấy uống thử. Cô thành tiên, bay lên cung Trăng. hóa thành con Thiềm Thừ (ễnh ương) .
Vào một rằm tháng 8, Đường Minh hoàng mơ lên chơi cung Trăng nhìn vào Quảng Hàn Thanh Hư chi phủ thấy có con ễnh ương ngồi trong đó. Người phương Đông gọi mặt Trăng là gương Thiềm, gương Nga.
Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây Hồ phú :
Bến giặt tơ người vốc nước còn khuya, gương Thiềm đựng trong tay lóng lánh ;
Vườn hái thị kẻ giày sương hãy sớm, túi xạ rơi dưới gót thơm tho.

Gương trung nghĩa.
1. Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi
Lê Quý Đôn – Đại Việt thông sử: Tháng 5 -1419, Lê Lợi đóng quân ở núi Chí Linh, Mường Cốc đã hơn chục ngày lương hết phải ăn củ nâu. Vòng vây khép chặt, thế nghìn cân treo sợi tóc. Lê Lợi nghĩ nung lắm. Nhìn tướng sĩ ông đứng dậy hỏi: Có ai dám bắt chước Kỷ Tín đời xưa không? Lúc ấy Lê Lai, tộc Mường làng Dựng Tú, sách Đức Giang, (Ngọc Lặc, Thanh Hóa) đứng bật dậy, khẳng khái: Xin vâng mệnh! Theo gương trung nghĩa, ông mặc áo bào xưng Lê Lợi, cùng hai thớt voi và 500 quân cảm tử xông thẳng vào giữa đội hình giặc Minh dưới chân núi. Trận đánh rất kiên cường dũng mãnh thu hút mọi hướng địch vào đó, lừa cơ cho quân tướng Lê Lợi thoát hiểm. Hoàng Lê ngọc phả có chép lời Lê Lợi dặn lại rằng:“ Sau khi ta mất, con cháu ta nên vì ta mà giỗ tổ Lê Lai trước ta một ngày”. (Ngày 22-8-1433).
2. Kỷ Tín:
Khi bị Hạng Vũ vây Huỳnh Dương, Lưu Bang lâm vào thế nguy, Trương Lương treo tranh trung nghĩa: Ngự nhân Cổ Giã Tử liều mình cứu nạn cho Tề Cảnh công trên sông Hoàng Hà. Tướng Kỷ Tín theo gương, mặc áo Lưu Bang, đi xe ngựa, cầm cờ hiệu, ra cửa đông, hô: Ta là Hán vương, vì lương kiệt, xin hàng Sở. Thừa cơ, Lưu Bang lẻn ra cửa tây trốn thoát về Thành Cao.
3. Cổ Giã Tử
Thuyền chở Tề Cảnh công (547-490 trCN) trong cơn mưa to gió lớn trên sông Hoàng Hà bị con Giải (cá Sấu) ngoạm con ngựa tả tham (con tứ mã bên trái). Cổ Giã Tử liều mình bơi chín dặm chém cá Sấu cứu vua.
Hành động trung nghĩa ấy gọi là Gương trung nghĩa.
Nguyễn Hữu Chỉnh – Trương Lưu hầu, phú:
Gương trung nghĩa treo tranh Tề Cảnh, Kỷ tướng quân khi gấp cũng phải liều.
Máy hiểm thâm đánh mái sơn cương, Phàn tráng sĩ lúc nguy nghi phải gượng.

Gương vỡ lại lành
Phá cảnh trùng viên. Gương vỡ lại tròn.
Cổ kim thi thoại: Đời Chiến Quốc, vợ chồng công chúa Lạc Xương (em gái vua Trần) và Từ Đức Ngôn gặp phải buổi loạn ly. Nàng bẻ đôi cái gương soi của mình, đưa cho chồng một nửa, nói: Lỡ có lạc nhau thì tết Thượng Nguyên đem mảnh gương này đến chợ Trường An bán để tìm nhau.
Nhạc Xương phiêu bạt bị bắt làm vợ Việt công. Từ Đức Ngôn đem mảnh gương vỡ ra chợ. Thấy một tì nữ bán mảnh gương vỡ, đem ráp lại thấy vừa. Từ gửi bài thơ Phá kính thi cho vợ: “ Kính dữ nhân câu khứ, Kính quy nhân vị quy. Vô phục Hằng Nga ảnh, Không lưu minh nguyệt huy”- Gương và người cùng đi, gương về người chưa thấy. Hằng Nga đâu, chỉ có ánh trăng ngà.
Nhận thư, Nhạc Xương nức nở xót đau.
Việt công dò hỏi biết tình. Việt cho gọi Từ Đức Ngôn đến để giao lại Nhạc Xương.
Ca dao:
.                                    Gương rằng gương vỡ lại lành,
.                                 Trót yêu đành để dỗ dành nhau đi.

 

H

Hà Nội
Là tên của Thăng Long, vua Minh Mệnh đổi năm 1831. Đàng Ngoài cũ kể từ Quảng Bình trở ra được chia thành 18 tỉnh trong đó có Hà Nội. Vị trí Hà Nội được bao bọc phía bắc và phía đông bởi sông Hồng, phía tây là sông Đáy.
Địa dư gồm Kinh thành Thăng Long và các phủ huyện: Từ Liêm, Thường Tín, Ứng Thiên và Lý Nhân.
Năm 1902 là thủ đô Liên bang Đông Dương do Pháp quy hoạch và xây dựng.
Năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập và là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Năm 1976 đất nước thống nhất là Thủ đô nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 1999, UNESCO phong tặng danh hiệu Thành phố Hòa Bình.
Tháng 8-2008, mở rộng với diện tích 3.324,92km2 gồm một thị xã, 10 quận, 18 huyện với 6,449 triệu người.
Nhà thơ Lê Quang Trang, sinh 1947. Quê Bắc Ninh – Trong lòng chúng tôi, Hà Nội…. :
Khi chiếc máy bay hạ thấp độ cao,
đủ cho ta nhìn rõ phù sa dòng nước sông Hồng,
Ta mới thấy Hà Nội còn nhỏ bé.
Nhưng chúng tôi biết trong lòng bao thế hệ,
Tình yêu thủ đô như lá cứ tươi xanh.

Hạc hoa biểu
Hạc quy hoa biểu. Hoa biểu là trụ đá trên mộ.
Đào Tiềm (365-427) – Sưu Thần hậu ký: Tương truyền. Đinh Lệnh Uy, người đất Liêu Đông, học đạo tu tiên trên núi Linh Hư. Một lần hóa thành chim Hạc bay về đậu trên trụ đá mộ của mình. Có một chú mục đồng giương cung toan bắn. Chim Hạc đã kêu lên:
Hữu điểu, hữu điểu Đinh Lệnh Uy,
khứ gia thiên niên kim tử quy.
Thành quách như cố nhân dân phi.
Hà bất học tiên trủng luy luy!
Chim này chính là Đinh Lệnh Uy, xa nhà nghìn năm nay trở về. Cảnh xưa như cũ, người đâu vắng. Sao chẳng học tiên bãi mộ kề.
.        Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn – Chồi linh thông tuyết điểm :
.                                                   Long Đỉnh Hồ từ đấy bay đi !
.                                                   Hạc hoa biểu bao giờ lại đỗ?


Hoàng Đế

Tên Hoàng Đế có từ 2697trCN. Mẹ Phụ Bảo cảm nhận (điện giao) và mang thai sinh con trai đặt tên Hiên Viên (vườn hiên). Các bộ lạc bầu Hiên Viên làm vua gọi là Hoàng Đế.
Tới Tần Doanh Chính, tên chức vị là hoàng đế. Chính nói:
– Sáu nước đã bị diệt. Thiên hạ bình định, ta không thay đổi danh hiệu, sẽ không thể xứng với công lao làm được và truyền cho đời sau.
Thừa tướng Vương Quán, Ngự sử Phùng Kiếp, Đình úy Lý Tư đồng lòng:
– Ngũ đế xưa đất cũng chỉ vuông ngàn dặm, còn là đất của chư hầu và man di. Nay lấy được thiên hạ, bốn biển thành quận huyện, pháp luật, mệnh lệnh thống nhất, Ngũ đế cũng không bằng. Xưa có Thiên hoàng, Địa hoàng và Thái hoàng là cao quý nhất. Bọn thần xin dâng tôn hiệu vua là Thái hoàng. Lời vua ban mệnh gọi là chiếu. Thiên tử tự xưng gọi là trẫm.
Tần Doanh Chính gật gù ngẫm nghĩ, thong thả nói:
– Ta bỏ chữ Thái lấy chữ Hoàng. Thêm chữ đế của các vị đế thượng cổ. Hiệu gọi là Hoàng đế. Các điều khác thì như lời các khanh tâu.
Đặng Trần Thường – Tần cung nữ oán Bái công:
Nào những thuở núp rừng cây nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng kiệu, những than thầm bóng cả trượng phu,
Đến bây giờ ngồi lầu ngọc ngắm tranh người, xôn xao trên nệm dưới màn, lại làm sỉnh ngôi sang Hoàng đế!

Hữu danh vô thực
Vua Nghiêu nói với Hứa Do:
– Khi mặt trời mặt trăng đã mọc, cứ cầm đèn đuốc mà soi chẳng phải lắm ru? Trời đang mưa mà cứ tưới tắm như thế chẳng ngại lắm ru? Nay có người đức thịnh, tài cao, thiên hạ tự khắc cảm hóa bình trị. Thế mà tôi cứ giữ lấy thiên ha, tôi tự thấy mình kém lắm. Xin nhường thiên hạ cho ngài.
Hứa Do cười, đáp:
– Nhà ngươi trị thiên hạ đã được bình trị. Ta thay nhà ngươi thì chẳng là ta không có cái thực làm cho thiên hạ bình trị mà ta lại nhận lấy cái danh bình trị thiên hạ ư? Cái danh là khách của cái thực. Không có thực lại dương lấy cái danh thì hóa ra ta làm khách chứ không phải chủ ư?
Con chim chích làm tổ ở rừng chỉ một cành cây. Con chuột uống nước sông chỉ đến no bụng. Thôi xin nhà ngươi cứ về mà trị
lấy thiên hạ. Ta có dùng thiên hạ làm gì! x. Rửa tai.
Nhà văn Nguyễn Khải – Thượng Đế thì cười (chương 21):
Nói thế chứ hắn cũng đã mất vài năm ra Bắc vào Nam để giữ một chức vụ hữu danh vô thực ở Hội Nhà văn. Rút cuộc là hắn thua, vừa mất thì giờ vừa thân bại danh liệt.

Hữu dũng vô mưu
Hạng Tịch (232-201 trCN) cực kỳ lười học. Chú Hạng Lương cằn nhằn, Tịch bảo, học biết ký tên là đủ lắm rồi. Một hôm lén xem Tần Nhị Thế đi qua, Tịch nói: Ta sẽ thay ông ấy.
Nhưng con đường ngắn nhất để ngồi vào cái chỗ ấy Tịch đã lấp rào. Tịch chỉ là hạng thất phu chi dũng, dùng sức cất vạc, đánh người vô tội vạ. Do vậy mà Tịch luôn bị Trương Lương dùng cái lưỡi mềm liếm mũi kéo vào tròng. Tịch không thể đến Quan Trung trước để nhận tước vương chỉ vì câu hát của vài đứa con đỏ nghêu ngao mà Tử Phòng mớm vội, để Lưu tới đích dễ dàng. Vài lời đường mật của Trương đủ làm chùn lưỡi kiếm khi Tịch đã kề cổ kẻ đối ngịch chốn Hồng Môn.
Giá như Hạng đọc sách. Giá như Hạng có cái đầu…
Thì ba ngàn con em đất Bái của Lưu so sao được 40 vạn quân hùng của Hạng? Thì 20 vạn hàng binh Tần đâu đến nỗi bị chôn sống cả đàn. Các dũng tướng Hàn Tín, Anh Bố, Bành Việt, Trần Dư, Điền Vinh, Trần Bình … đâu có bỏ Tịch quy lối Lưu Bang! Để rồi vài lời dông dài của bọn Hán gian giả tiếng Sở ca cũng thừa cho Tịch rụng rời tâm trí, bỏ Cai Hạ chạy về huyệt mộ Ô giang, dọn ghế cho Lưu ngồi chễm chệ! Để đời sau phải gọi hữu dũng vô mưu.
Ca dao:
Trứng rồng đã nở thìu điu,
Tiếng thì hữu dũng, vô mưu cũng đành.

Hữu xạ tự nhiên hương.
Theo Đế vương thế kỷ và Tam tài đồ hội: Từ đời Nghiêu- Thuấn bên Tàu có trò chơi Kích Nhưỡng. Dùng miếng gỗ dài 3 tấc hình chiếc giày gọi là Nhưỡng, để xa 30-40 bước. Rồi dùng cái Nhưỡng khác ai ném trúng thì được cuộc. Vừa chơi vừa hát. Bài hát gọi Kích Nhưỡng ca. Ca từ có câu:
Hữu danh khởi tại thuyên ngoan thạch,
Lộ thượng hành nhân khẩu thắng bi.
Hữu xạ tự nhiên hương,
Hà tất đương phong lập.
Có danh há khắc ở đá cứng, Trên đường, miệng nói hơn cả bia. Có hương tự nhiên đưa, việc gì phải ra trước gió để hứng.
Ca dao:
Hữu xạ thì tự nhiên hương
Việc gì mà phải tìm đường gió đưa.

Hy sinh
Người xưa tế thần, thường dùng loại muông thú thuần sắc, con vật đó gọi là hy.
Thời tam đại, Thành Thang (1766-1761 trCN) cầu mưa, vua tự làm con hy, phủ phục trước miếu thần hiến dâng thân sống của mình để cứu nạn cho dân, gọi là hy sinh.
Nhà thơ
Nguyễn Đức Mậu, sinh 1948 tại Nam Ninh, Nam Định – Hy sinh:
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc,
Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng.

K

Kẻ Chợ
Xuất hiện từ thời Lý – Trần. Văn bản sớm nhất ghi trong cuốn Nói về châu Á của Barros xuất bản năm 1550.
Xưa, quần thể sống từng làng, xã gọi là quê. Thường thêm kẻ như kẻ Sặt, kẻ Mơ, kẻ Chủ… gọi chung kẻ quê.
Thăng Long thành đô hội. Lớp người kẻ quê ra tỉnh buôn bán ở chợ, có nhà thì sinh sống luôn lại đó nên có tên kẻ Chợ (âm Hán-Việt là thị triều).
Kẻ Chợ chủ yếu là phố phường và bỗng nhiên trở thành tên riêng cho Thăng Long – Hà Nội.
Phan Bội Châu – Hải ngoại huyết thư (Lê Đại dịch):
.                                             Miền kẻ chợ, phía nhà quê
.                                          Của đi có lối, của về thì không.

Khỉ Sở
Lời Hán Lưu Bang chê Hạng Vũ.
Tuy nhiên, người nước Sở có câu :“ Sở quốc vong viên, họa diên lâm mộc”- Sở mất khỉ, họa lây cả tới cây rừng.
Sử Ký: Nhân ngôn, Sở nhân mộc hầu nhi quan nhi. – Người ta nói người Sở là loài khỉ tắm đội mũ. Và dùng từ mộc hầu chỉ tính nóng nảy như con khỉ tắm. Đội mũ cho nó thì nó rất tức giận hét lên mà vất đi ngay. Vì Hạng Vũ tính nóng nảy nên gọi là khỉ Sở.
.     Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1882). Người làng Tân Hội, Gia Định, Thành phố Hồ chí Minh.- Chó già:
.                       Bởi đuổi hươu Tần nên mỏi gối,
                          Vì lo khỉ Sở mới dùng da.

Không có việc gì  khó, chỉ sợ lòng không bền.
     Thái công:
                       Thế thượng vô nan sự,
Đô lai tâm bất chuyên.
Ninh kết thiên nhân ý,
Mạc kết nhất nhân oan.
.                      Nhẫn nan nhẫn chi sự,
,                     Thử bất minh chi nhân.
Trong đời không có việc gì khó, chỉ tại lòng không bền. Thà cột ý ngàn người vui, chớ cột một người oan. Nhịn việc khó nhịn, tha thứ người không biết.
Năm 1927-1929, với bí danh Thầu Chín, bác Hồ hoạt động ở Phi Chịt-U don, Thái Lan. Đường xa, gánh nặng Bác đi rộp cả bàn chân. Mọi người ngỏ ý muốn mang đỡ. Bác đọc câu thơ:“ Thế thượng vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên. ”- Trên đời không có việc gì khó, chỉ e lòng người không kiên trì.
Cuối đông năm 1950, Bác Hồ thăm Thanh niên Xung phong làm đường Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác đã tặng thơ:
                                        Không có việc gì khó,
.                                       chỉ sợ lòng không bền.
.                                       Đào núi và lấp biển,
.                                        quyết chí ắt làm nên.

Kinh Dịch
Chu Dịch.
Là một trong ngũ kinh của đạo Nho. Kinh Dịch là bộ sách triết học, tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh của nhà Nho.
Truyền thuyết: Do Phục Hy (Bào Hy ~2852trCN) đặt ra. Ông quan sát trời đất, muông thú con người…rồi liên hệ sự tương quan giữa chúng mà đặt ra bát quái (8 quẻ). Chia thành 64 quẻ đơn (Quẻ đơn 3 hào. Quẻ kép 6 hào. Hào dương vạch liền. Hào âm vạch đứt). Nó đơn thuần như sách bói. Đến đời Chu 1122trCN, Chu Công Đán thêm quái từ (lời quẻ) và hào từ (lời hào), thoán từ (lời thương).
Khổng Tử (551-497 trCN) viết Thập dực (10 truyện diễn giải). Về vũ trụ quan: Nguyên tố khởi thủy của vũ trụ vạn vật là Thái Cực. Đề thuyết Chính danh đưa xã hội vào vòng trật tự.
Mạnh Tử (372-289 trCN) người Trâu Ấp nước Lỗ. Thế hệ thứ ba của Khổng Phu tử. Khổng truyền cho Tăng Sâm. Sâm truyền cho Khổng Cấp. Cấp truyền cho Mạnh Tử. Sau Mạnh Tử là Tuân Huống (298?-238 trCN), tự Khanh, nước Triệu. Nhà vô thần luận vĩ đại đưa thuyết Dịch lên một bước dài.
Đời Hán Vũ đế, Đổng Trọng Thư (179-104 trCN). Nhà lý luận xuất sắc đã áp dụng phép tính toán phát triển, khởi đầu ghép các con số để giải thích hiện tượng của Dịch.
Đời Tống, Nho gia cường thịnh. Chu Hy, Nhị Trình… cùng việc dùng số Tử vi, Kinh Dịch thành môn lý học hoàn chỉnh.
Nguyễn Trãi – Tự thán (bài 9):
Tỏ tường phiến sách con Chu Dịch
Bàn bạc lòng nhàn cái quit chè.

Kinh Dương vương
Mở đầu họ Hồng Bàng là Kinh Dương vương, húy Lộc Tục.
Sách Lĩnh Nam chích quái : Cháu ba đời của Viêm đế Thần Nông thị là Đế Minh. Đế Minh đi tuần đến phương Nam lấy con gái Vụ Tiên, sinh Kinh Dương. Kinh Dương làm vua nước Xích Quỷ. Kinh Dương vương lấy con gái Động Đình Quân là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tức Sùng Lãm). Họ Hồng Bàng truyền được 18 đời vua nối nhau 2622 năm(?)
Nguyễn Gia Môn – Nam sử diễn ca:
Hồng Bàng là tổ nước ta,
Nước là Xích Quỷ vua là Kinh Dương.

Kinh luân
Gỡ từng mối tơ xếp dọc gọi là kinh. Xếp cùng loại tơ lại bện thành dây là luân. Việc chính trường tương tự gọi kinh luân.
Kinh Dịch: “ Vân lôi truân, quân tử dĩ kinh luân.”- Mây, sấm cùng tượng quẻ truân, người quân tử sửa sang xếp đặt mọi việc.
Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn – Khắc hoa kỳ kế:
Kể trước 117 cụ, đem kinh luân ngăn đại hải mới đầy,
Đắp 2100 trượng đê, so công đức ví Thái Sơn còn nhẹ.

Kinh Qur’an
Lời mặc khải qua thiên thần Gabriel
1. Kinh Koran (Qur’an) có 114 chương 6236 tiết. Trong đó có 6219 câu thể hiện kinh Cựu ước và Tân ước. Tín đồ Hồi giáo cho rằng: đó là lời mặc khải từ Thượng đế qua thiên thần Gabriel với người Hồi giáo và sửa những điều không đúng trong Kinh Thánh.
Đạo Hồi không có 10 điều răn như Kito nhưng Koran cũng ghi 10 điều tương tự: 1. Chỉ tôn thờ đấng Allah (Thiên Chúa). 2. Vinh danh và kính trọng cha mẹ. 3. Tôn trọng quyền của người khác. 4. Bố thí cho người nghèo. 5.Cấm giết người (ngoại trừ người chống lại mình và làm hại tới đạo). 6.Cấm ngoại tình. 7. Bảo vệ và chăm sóc trẻ mồ côi. 8.Cư xử công bằng. 9. Trong sạch trong tình cảm và tinh thần. 10. Khiêm tốn.
2. Đạo Hồi (Islam) hình thành từ thế kỷ VII từ Mecca bán đảo Arab Saudi do nhà tiên tri Muhammad sáng lập.
Nghĩa từ Islam : Vâng mệnh. Qui phục Thượng đế.
Tiếng Arab : Muslim. Tiếng Anh : Moslem. Tiếng Pháp : Musulman. Người Hoa gọi Tazi (Đại Thực giáo, hoặc A-lạp- ba, hay Y-Tư-lan giáo phiên từ Arab & Islam) cho rằng xuất xứ từ tộc Hồi Hột (616-840) đã giúp diệt nạn An Lộc Sơn.
Năm điều cơ bản: 1.Truyền đọc câu Sahadah :« La ila ha il lallah »- Không có Thượng đế nào xứng đáng được thờ phụng chỉ có Allah duy nhất. 2.Cầu nguyện ngày 5 lần (bình minh, trưa, xế trưa, hoàng hôn và tối). 3.Bố thí. 4.Nhịn chay tháng Ramadan (lịch Mặt Trăng). 5.Hành hương Mecca.
3. Muhammad, sinh năm 570 tại Mecca, bán đảo Arab Saudi. Gốc Arab. Cha là Abd Allah. Mồ côi cha trước lúc sinh và mẹ khi 6 tuổi. Ở với chú Abu Talid. Chăn cừu thuê cho góa phụ Khadijab. Ông đưa đàn cừu 3000 con từ Mecca lên Syria chỉ mất có vài chục con. Cảm phục, góa phụ Khadijab 40 tuổi lấy làm chồng khi ông 25 tuổi.
Sau những cuộc chiến, tranh giành đẫm máu giữa các đạo phái, có lúc phái của ông phải đào cát sống ngầm dưới lòng đất. Rồi phái Muhammad trỗi dậy đánh tan các cường đạo khác khai lập đạo Hồi.
Ông được mặc khải qua Thiên sứ Gabriel lúc 40 tuổi.
Mất trong vòng tay Aisha người vợ trẻ thứ tư, con gái chiến hữu Abu Bakar, tại Medina, Arab Saudi, vào năm 632. Thi hài đặt ở Thánh đường Thiên sứ Al-Nabawy…
Nhà thơ Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí 1912-1940). Gốc họ Phạm, Đồng Hới, Quảng Bình – bài Ave Maria:
Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel,
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ.

Kinh Thánh
1. Là bộ kinh của Kitô giáo (Cơ-Đốc giáo, Công giáo) gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người.
Từ Kinh Thánh, tiếng Hy Lạp: Biblia, nghĩa là sách. Gốc từ Byblos nghĩa là giầy cói. Cũng là tên thành phố Babilos xứ Phenicie cổ đại chuyên sản xuất giầy cói. Kinh Thánh gồm:
Kinh Cựu ước Hebrew (Tanakh, kinh Do Thái giáo) có 24 cuốn với 160.764 từ. Chia 3 phần : Luật Giao ước (Torah, ngũ thư, ngũ kinh). Ngôn sứ (Nevi’im, hay tiên tri) và Văn chương (Ketuvim).
Tân ước gồm Phúc Âm. Sách Công vụ tông đồ. Các thư của Phaolo cùng các sứ đồ khác và sách Khải huyền.
2. Thời điểm Kito giáo ra đời với những bế tắc nối tiếp nhau cả về văn hóa lẫn chính trị. Người Do Thái vật lộn với nền triết học và các giá trị nền văn minh Hy-Lạp cùng sự mâu thuẫn nội tại của kinh Torah áp dụng cho người Do Thái.
Kito giáo khởi nguồn từ Thánh Abraham tổ phụ của người Do Thái và Arabien, người dựng đền Cấm (Al-Haram) thờ Chúa Trời ở Mecca.
Kito hữu (Christian : người thuộc về Chúa Kito) tin rằng Jesus là con của Thiên Chúa và đấng Messiah của người Do Thái đã tiên báo trong Cựu ước là sự kế thừa hoàn chỉnh của Do Thái giáo. Những xác tín cơ bản: 1.Thiên Chúa có 3 ngôi (Chúa cha, con và Thánh linh). 2.Chúa Jesus là Thiên Chúa vừa là người. 3.Maria mẹ Jesus bởi quyền năng của chúa Thánh linh. 4.Chúa Jesus là đấng Messiah người Do Thái kế thừa ngôi vua David ngự bên hữu chúa cha với tất cả quyền bính vĩnh cửu. 5.Chúa Jesus không bao giờ phạm tội. Qua cái chết trên thập tự giá và sống lại, tín hữu được tha thứ, được hòa giải với Thiên Chúa. 6. Chúa Jesus sẽ trở lại để phán xét nhân loại, để tiếp đón người vào vĩnh cửu bên Thiên Chúa.
3. Jesus sinh đêm 24 rạng 25-12-01, có tên là Yehoshua. Gốc Do Thái, tại Belem (Bethlehem) gần Jerusalem. Cha là Joseph (Giu-se) nghề thợ mộc. Mẹ là Maria (Thánh kinh, Jesus chịu thai bởi quyền phép chúa Thánh Linh vào bà Maria đồng trinh). Lớn lên ở làng Nazareth xứ Galilee.
4. Tây dương Gia tô bí lục: Ông bà Joseph sinh con hiếm muộn, nên chiều chuộng. Bé Yehoshua hay nói những lời thậm xưng thần thánh. Sự lạ, làm người dân tin theo. Ông đã tuyên truyền về sự tiết chế và đã cắt bộ phận sinh dục của mình. Bị chính quyền La Mã tại Jerusalem phán xét, nghiêm cấm và theo dõi. Một lần vào dịp lễ Passover (lễ Vượt qua) ông vào quát tháo, xô đẩy bàn ghế hỗn loạn, thậm xưng Chúa Trời. Tòa Công luận (Sahedrin) và Thượng tế Joseph Caiaphas kết tội xúi giục nổi loạn. Lính La Mã bắt, nhận diện nhờ cái hôn của Juda Iscariot khi Jesus trốn trong rừng Gethsemame ngoại ô Jerusalem. Tổng đốc Pontius Pilate miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh câu rút vào thứ 6, ngày13 April, năm 33.
Nguồn gốc từ tiếng Anh : Jesus. Tiếng Hy Lạp : Josous.
Tiếng Hebrew : Yhoshua nghĩa là đấng Cứu độ.
Kito, tiếng Latin : Christus. Tiếng Hy lạp : Khristos, danh hiệu của chúa Jesus, là người Xức Dầu ám chỉ sự lãnh đạo.
Nhà thơ Hàn Mặc Tử – Say thơ:
Bởi ước ao tuôn tràn vô pho sách,
Bởi Thánh Kinh no chán nghĩa sâu sa.

Kinh Thi
Thời Tây Chu, đã cử người đi tìm những câu thơ, lời văn hay trong dân. Người đó gọi hành nhân. Và hành nhân đã tập hợp được 305 bài thơ, từ, dân ca của các dân tộc cổ Trung Hoa trong khoảng 500 năm từ thời Tây Chu đến giữa Xuân Thu (770-403 trCN) gọi chung là Thi.
Kinh Thi còn gọi là Mao Thi vì do Mao Hanh nước Lỗ và Mao Tường nước Triệu ghi lại trên thanh tre (giản). Sau này Khổng Tử chỉnh lý, chia thành 3 phần Phong, Nhã, Tụng.
Phong : 160 thiên là dân ca các nước, gọi là Quốc Phong.
Nhã :105 thiên được chia ra Đại Nhã do học giả tên tuổi sáng tác và Tiểu Nhã : khúc ca hát khi triều hội, yến hưởng…
Tụng : 40 thiên là các bài cúng tế ở miếu đường thời Chu, Lỗ, Thương gọi là Chu tụng, Lỗ tụng, Thương tụng.
Khổng Tử :“ Bất học thi, vô dĩ ngôn” – không học kinh Thi, không có tư cách đàm luận.

Kinh Thư
Ghi các truyền thuyết về Lịch sử cổ đại từ đời Chu về trước.
Là những lời của các thánh đế, minh vương, hiền thần, lương phụ của các đời Đường Ngu, Hạ, Thương, Chu.
Nguyễn Trãi – Mạn thuật (Thuật chuyện phiếm, bài 12):
Chín sá lui mà thủ phận,
Lại tu thân khác mặc Thi, Thư.

Kinh Xuân Thu
Là bộ lịch sử do Khổng Tử soạn về 242 năm nước Lỗ từ Lỗ Ân công (721-710 trCN) đến Lỗ Ai công (494-466 trCN).
Khổng Dĩnh Đạt – Lời tựa: Khổng Tử viết ngụ lời bao biếm. Sự khen chê ngụ ở chữ.“ Nhất tự chi bao vinh ư hoa cổn, nhất tự chi biếm nhục ư phủ việt”- Một chữ khen vinh hơn được chiếc áo cổn hoa vua ban. Một chữ chê nhục hơn phải tội búa tạ.
Mùa Xuân năm Lỗ Ai công 481trCN, người đánh xe họ Thúc Tôn là sư Thương bắt được con Kỳ Lân bị bọn săn què chân trái trước, cho điềm không lành nên thả ra. Kỳ Lân (con Nghê, đực là kỳ, cái là lân) một trong tứ linh. Sắc vàng, mình hươu, cổ sói, chân ngựa, đuôi trâu, một sừng, rất lành nên gọi nhân thú. Khi nào vua nhân đức ra đời thì Kỳ Lân xuất hiện.
Nhiễm Hữu báo tin, Khổng ra xem nói: “ Thục vị lai tai, Thục vị lai tai!”-Ai bảo đến vậy! Khổng lấy vạt áo che mặt khóc rằng đời sắp loạn nên soạn ca khúc:“Đường Ngu chi hề Lân, Phụng du! Kim phi kỳ thì hề lai hà cầu? Lân hề, lân hề ngã tâm ưu!”- Đường Ngu nghê phượng rong chơi. Nay chẳng phải thời, sao đến làm chi? Lân ơi lân à, lòng ta lo lắm!
Ông nói:“Ngô đạo cùng hỹ!”- Đạo ta đến lúc cùng rồi. Khổng dừng chép. Ông bỗng bệnh bảy ngày sau thì chết.
Nhà thơ Hàn Mặc tử – Đêm cầu nguyện:
Câu tán tạ khong khen long cả phiếm,
Bút Xuân Thu mùa nhạc đến vừa khi (*).

Kình ngạc
Triệu Thị Trinh (225-248), với chí anh hùng: “ Tôi muốn cưỡi cuồng phong, đạp bằng sóng dữ, chém kình nghê Đông Hải, đánh đuổi giặc Ngô, cởi ách nô lệ!”
19 tuổi bà chiêu binh mộ nghĩa lập căn cứ Phú Điền ở Hậu Lộc. Năm Mậu Thìn (248), cùng với anh trai Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa. Quân Tàu Ngô bạt vía kinh hồn, tan tành thành, ấp. Thứ sử châu Giao là Lục Dận hoảng sợ chạy bán sống mất dạng. Bị phản bội bà hy sinh trên núi Tùng, Thanh Hóa sau 6 tháng chống giặc.
Kình là loại cá voi, họ cá heo. Cá kình cái gọi là nghê. Loại cá voi sát thủ có tên Orcinus orca. Là loại động vật lớn, có vú. Sống ở biển . Hung dữ. Mồi là loại cá nhỏ.
Cá ngạc (cá sấu) loại bò sát ăn thịt, tên Crocodylidae. Sống dưới nước và đi trên đất. Hung dữ. Đều được ví như kẻ độc ác.
Nguyễn Trãi – Bình Ngô đại cáo:
Nhất cổ nhi kình khoa ngạc đoạn
Tái cổ nhi điểu tán khuân kinh!
Đánh một trận sạch sanh kình – ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Bùi Kỷ dịch.

Kỵ hổ nan hạ
Cỡi cọp khó xuống.
Chu Tuyên đế (559-580) thời Bắc Chu, lập con gái Dương Kiên làm hoàng hậu thì quốc thích Dương Kiên (541-604) leo lên từng bước danh vọng Tả thừa tướng dễ dàng.
Tuyên đế hoang dâm, lại đưa ra những đạo luật tàn bạo nên Dương Kiên đưa lời trái ngược. Bị Tuyên đế mắng nhiếc, Dương Kiên ngầm câu kết với Vũ Văn Khánh lật đổ. Chuyện ngày càng nặng nề vì thế vợ Dương Kiên rất lo sợ nói: kỵ hổ nan hạ (cỡi trên lưng cọp, không giết, không thể xuống được).
Tuyên đế bệnh chết đột ngột. Cháu ngoại là Vũ Văn Thiền 9 tuổi thay ngôi. Dương Kiên giết ấu chủ và tự lên ngôi Tùy Văn đế Dương Kiên (581-604) lập nhà Tùy, tồn tại từ năm 581-618.
Thơ cổ :                                 Kỵ hổ nan hạ đã đành,
.                              Tử môn cùng với sinh thành ngang nhau.

L

Lá gió cành chim
Tiết Đào tự Hồng Độ (~764~838?), người Trường An. Biết làm thơ từ lúc mới 8-9 tuổi.  Một hôm cha cô trong buổi quan nhàn trên đất Thục, trỏ vào cây ngô đồng đọc:
Đình trừ nhất cổ đồng,
                                  Tùng cán nhập vân đông.
Rồi nói, con gái cha tiếp đi. Tiết Đào xuất khẩu liền:
Chi nghinh nam bắc điểu,
                                  Diệp tống vãng lai phong.
Trước sân cây đồng cỗi, chót vót vào mây xa. Cành đón chim nam bắc, lá đưa gió lại qua!
Trước câu thơ xuất thần của con, ông vui trào nước mắt nhưng lại giật mình. Lời thơ như vận vào người, rồi đời sẽ khổ tận thế nào? Không ngờ câu thơ định mệnh. Cha cô mất sớm. Tuổi cập kê, con gái danh phận không thành.
Tuy nhiên thơ Tiết Đào nổi tiếng. Bà từng giao du thi phú với Nguyên Chấn, Bạch Cư Dị, Ngưu Tăng Nhụ, Lệnh Hồ Sở, Bùi Độ, Nghiêm Phụ, Trương Tịch, Đỗ Mục, Lưu Vũ Tích…
Tiết Đào chế tạo được loại giấy hoa thông và một thứ giấy tiên màu đỏ thắm ngũ sắc gọi là Tiết Đào tiên.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
.                                                     Dập dìu lá gió cành chim,
                                          Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.

Lợn Hán
Lưu Bị (161-223) cháu 27 đời Lưu Bang, nối được giống tổ Lưu Quý, không thích đọc sách. Nhưng thích gái, rượu và chó.
Bỏ qua lời can của Gia Cát, Triệu Vân, Lưu Bị cố đánh Ngô báo thù cho Quan Vũ. Bị Lã Mông đánh bại thảm, đổ bệnh. Lưu nói với Gia Cát: Vì nông cạn không nghe Thừa tướng mới ra nông nỗi này. Ta vạn phần hối hận. Năng lực con trai ta quá kém nên không thể không giao phó đại sự cho Thừa tướng được….
Năm 263,  tướng (Ngụy) Đặng Chi vào Thành Đô, bắt được Hậu chủ Lưu Thiện (A Đẩu) giam ở kinh thành Lạc Dương.
A Đẩu ục ịch, ngu đần. Vào một bữa cơm, Tư Mã Chiêu hỏi: Nhà ngươi có nhớ nước Thục không? Đáp: “Ta ở đây rất vui, chẳng hề nhớ!” Khích Chính, kẻ hầu Hậu chủ, nghe mà đau buồn, xấu hổ. Nhân đưa A Đẩu đi tiểu, nói: Tướng quân có hỏi thì  phải tỏ ra nhớ mà khóc mới có cơ hội trở về Thục chứ. Quả nhiên A Đẩu vào ăn lại, đã khóc. Thấy lạ, Chiêu hỏi “Sao khóc giống lời Chính thế?”. A Đẩu giật mình, đáp: Đúng, đúng, Chính dạy ta nói thế!”
A Đẩu là điển hình một con Lợn Hán.
Phan Văn Trị (1830-1910)  – Cảm hoài:
                                      Ở Hán đành lòng phò lợn Hán
                                       Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần.

Lửa dục
1. Quan niệm y lý cổ: quân, thần, tá, sứ thì tim thuộc quân hỏa và thận thuộc thần hỏa chủ sinh lý. Là tình cảm, tình yêu con người. Một khi quân thần cùng vượng thì có thể thành lửa dục.
2. Quan niệm Phật giáo: Theo Thập nhị nhân duyên: do lục dục mà thành. x. Lục căn.
Trần Văn Nghĩa – Thế tục phú:
Nước chảy bến mê,
Gió hun lửa dục.

Lửa duyên
Theo Phật giáo, sở dĩ người ta đau khổ là vướng vào:“ Thập nhị nhân duyên”. Tim thuộc hỏa. Cho nên còn gọi “tâm hỏa” hay “lửa lòng”. Nó có thể đốt cháy tất cả.
Phật Quan Âm lấy cành dương nhúng vào nước Cam lộ (sương ngọt) vẩy rửa cho chúng sinh hết bụi trần.
Nguyễn Gia Thiều – Cung oán ngâm khúc:
Vắt tay nằm nghĩ cơ trần,
Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa duyên.

Lửa huỳnh
Tụ huỳnh. Ánh sáng đom đóm.
Tấn thư: Đời Tấn, Xa Dận tự Vũ tử, con trai Xa Dục, người Nam Bình, Phúc Kiến. Nhà nghèo không có đèn, Đã bắt đom đóm bỏ trong lá khoai lấy ánh sáng để học. Làm đến Sử bộ Thượng thư đời Tấn An đế. Tính tình thẳng thắn cương trực.
Vì tố cáo mưu phản của Tư Mã Nguyên Hiển mà bị y hãm hại.
Cao Bá Quát – Tài tử đa cùng, phú:
Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa, trăm nghìn đường chỉ nhện dệt thưa mau.
Đèn toan hàn thức nhắp mái nam song, dăm ba ngọn lửa huỳnh khêu to nhỏ.

Lược thao
Lược : chiến lược. Thao: chiến thuật.
Là 2 trong 7 pho sách Trung Quốc cổ dạy về binh pháp: Tôn Tử, Ngô Tử, Uất Liễu Tử, Tư Mã pháp, Lý Vệ công vấn đối và Lục thao, Tam lược.
Binh thư: Tam lược do Hoàng Thạch Công soạn gồm tam sách: Quyển thượng, gọi tướng lược: Mưu lược làm tướng.
Quyển trung, gọi quân lược: Hành động của quân sĩ.
Quyển hạ, gọi trận lược: Mưu trận bài binh chiến đấu.
Tương truyền ông trao cho Trương Lương ở Di Kiều. Nhờ đó, Trương thành tướng rất giỏi của Hán Cao tổ Lưu Bang.
Thao: sách Thái công binh pháp do Lã Vọng thời Chu soạn gồm lục thao: Văn thao (cách thu phục nhân tâm).Võ thao (cách bình định thiên hạ). Long thao (chọn tướng). Hổ thao (vận động tác chiến). Báo thao (tác chiến), Khuyển thao (luyện binh).
Nguyễn Bỉnh Khiêm – Thơ Nôm:
Ngẫm nghĩ năm pho kinh sử
Tập tành ba quyển lược thao.

Lương phương hồi xuân.
Tục ngữ Hoa Hạ: Táng Đường, loạn Hán – Đời Đường bẩn thỉu, đời Hán hủ bại. Đời Hán vẫn giữ hủ tục: Tân khách tương ngộ di phụ đãi túc: Có khách gặp, đem vợ ra dụ ngủ lại đêm. Đời Đường thì con lấy vợ bố như Lý Trị. Hay bố lấy vợ con như Lý Long Cơ.
Ngự y gọi phương sĩ. Chủ yếu ra lương phương chế ra các thuốc như Xuân khiết cao, Hồi xuân hoàn…phục vụ cho vua chúa chốn phòng loan. Họ còn in nhiều sách dạy làm tình như Phòng trung thuật, Hội hợp âm dương… Tố Nữ kinh tập hợp kinh nghiệm từ Hoàng Đế (2697-2598 trCN), đời Chu (1122-220 trCN).
Khi thuyết Lão Tử phổ biến rộng, luật âm dương được phát huy. Áp dụng triệt để từ năm 225 trong Tam cung, Lục viện suốt thời Hán đến Tam quốc… sau này, Từ Hy Thái hậu rất thành công. Sách viết:“Dương đắc âm nhi hóa dục, âm hộ dương nhi thành trường. Âm dương tương hỗ tương thành, hỗ tương cảm ứng tuần hoàn tương sinh.”- Dương có âm, sinh ham muốn. Âm giúp dương cùng lớn. Âm dương trợ nhau để đạt được cùng nhau tận hưởng.
Sách do Tùy Dạng đế sai Lâm Khảo Từ biên soạn bổ sung.
Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên :
Gẫm trong tập nghiệm lương phang,
Cùng là ngự toản trải đàng hồi xuân.

Ly Tao
Sử Ký: Thời Chiến Quốc, Tả đồ Khuất Nguyên (340-278 trCN), hiệu Linh Quân. Họ Hùng, tôn thất Sở. Ăn lộc đất Khuất nên họ Khuất. Quê làng Tỉ Quy, Hưng Sơn, Hồ Bắc.
Nước Sở trong thất hùng, đang là miếng mồi ngon của Tần. Để cứu vãn, ông chủ trương cải cách chính trị, dân sinh. Song tập đoàn gian thần Cần Thượng, Tư Lang, Tử Liêu, Nam hậu Trịnh Tụ… ra sức cản ngăn. Sở Hoài vương (328-299 trCN) bắt ông lưu đày ra Hán Bắc, Hà Nam làm Tam lư đại phu. Vẫn không thỏa hiệp với Sở Khoảnh Tương vương (298-262 trCN) ông lại bị đày ra Giang Nam. Ông đến sông Mịch La ở Trường Sa. Hơn 20 năm phiêu bạt, uất hận đắng cay đã phôi thai, sinh nở đại thi hào rực sáng suốt 2300 năm trên bầu trời văn học. Chùm Đại Hùng tinh Ly Tao, Thiệp giang, Ai Sính, Bi hồi phong, Hoài sa, Tư mỹ nhân… Đa thể Sở từ với ngôn ngữ điêu luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu.
Chuyện, Ngư phủ ở sông Thương Lang thấy Khuất Nguyên thân hình khô héo tiều tụy vừa đi vừa hát, liền hỏi: “Ông có phải là Tam Lư đại phu đó không sao mà đến nỗi này?” Khuất nói:“ Cử thế giai trọc ngã độc thanh. Chúng nhân giai túy ngã độc tinh.”- Khắp nơi đục cả, mình ta trong. Mọi người đều say, mình ta tỉnh. Lão đánh cá: “Thánh nhân không câu nệ việc gì lại hay tùy thời. Có phải đời đục cả sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục một thể? Loài người say cả sao ông không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải lo xa, nghĩ sâu, để đến nỗi phải lưu đày?”. Khuất nói: “Tôi nghe, mới gội tất phải chải mũ, mới tắm tất phải thay áo, ai chịu để cái dơ bám vào mình? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác trong bụng cá chứ đang sạch ai lại chịu bụi dơ?”. Lão ngư mỉm cười, bơi chèo, hát Nhụ Tử ca:“ Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh. Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.”- Nước Thương Lang trong a, có thể giặt dải mũ ta. Nước Thương Lang đục a, có thể để rửa chân ta.
Ông định mệnh trên dòng Tương (Mịch La, Hồ Nam) ngày 5 -5-278trCN như lời kết Ly Tao:
Chính lành làm sức với ai?
                                               Bành Hàm(*)đâu đó ta thời đi theo!
.     Nhà thơ Đỗ Thị Thanh Bình – Hoài niệm:
.                                     Dòng Mịch La dẫu hơn hai ngàn năm,
.                                      Sóng vẫn hát khúc Ly Tao nức nở,
  .                                    Về thân phận nhà thơ quá cố
 .                                     mà tình yêu đất nước đến vô cùng.

M

Mây Tần
Ảnh đính kèmHàn Dũ (768-824) tự Thoái Chi. Gốc Xương Lệ, Hà Bắc. Ông sở trường tản văn và thơ. Rất giỏi dùng từ ngữ. Sáng tạo nhiều cặp từ mới. Cùng Liễu Tông Nguyên (773-819) đề xướng cổ văn. Cùng Mạnh Giao (751-814) lập “Hiểm quái thi phái”.
Hàn Dũ mồ côi cha mẹ. Tự học, và “ Học dĩ vi canh. Văn dĩ vi hoạch.” – Việc học như cày ruộng. Viết ra là thu hoạch.
Năm đầu thi Tiến sĩ, quan chủ khảo Lục Chí ra đề: “Bất thiên nộ, bất nhị qua luận”. Ông viết làu làu hàng ngàn chữ mà sao không đỗ. Kỳ sau, năm 792, thầy ấy, đề ấy. Hàn Dũ viết lại như cũ. Lục Chí càng đọc càng say. Chưa hết bài, Lục Chí thốt lên: Sao ta không tuyển anh ta? Ta quả thật bị hoa mắt rồi!
Cương trực. Hoạn lộ thăng giáng. Có người nói Hàn không ưa Phật pháp, bỏ nghĩa vua tôi. Song vì sao Hàn dám dâng Luận Phật cốt biểu cản Đường Hiến tông (806-820) đưa xá lị Phật thờ trong hoàng cung, thừa biết sẽ bị khép vào tội chết? Vì Hàn đau đáu nỗi buồn vua mê muội, dân nghèo khổ sở vì mù tín diễn ra hàng ngày. Nhờ Tể tướng Bùi Độ và quan đồng liêu can vua, thoát khỏi tử thần. Vua biếm cho làm Thứ sử Triều Châu, Quảng Đông, song bắt phải tới đó chỉ trong 8 ngày, không thì bị chém.
Đường Trường An đi Triều Châu 8000 dặm. Hàn cùng hai gia nhân rong ruổi ngày đêm không nghỉ. Ăn lương khô trên lưng ngựa. Đã gần 8 ngày rồi mà mới tới ải Lam dưới chân Tần Lĩnh. Thầy trò bị lạc lối trong rừng. Mây tối âm u. Từng hồi gió rít. Hàn đã muốn bỏ cuộc. Từ quan vào rừng ẩn náu.
Bỗng Hàn nhớ tới người cháu tên Hàn Tương đã bỏ nhà tu tiên…Nguyên là Hàn khuyên cháu đừng theo chuyện tu tiên hoang đường. Tranh luận không ngã ngũ, Hàn Tương tặng chú hai câu thơ: Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại?
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền!
Nghĩa là Mây ngang Tần Lĩnh nhà đâu nhỉ? Tuyết phủ ải Lam ngựa khó qua! Hàn thấy hay. Song nghĩ, vô nghĩa. Tuy vẫn nhớ lời cháu để nghiệm về sau. Giờ đây, là thực hay mơ?
Hàn Tương bỗng hiện ra. Tương nghe hết sự tình rồi dẫn chú ra bờ sông Chương lên một con thuyền, bảo nhắm mắt lại để đưa đi. Thuyền đi như trong gió, khoảng một tiếng sau tới bến Triều Châu. Hàn Dũ liền viết Chí Lam Quan thị điệt Hàn Tương:
.                       Nhất phong triêu tấu cửu hoàng thiên
                         Tịch biếm Triều Châu lộ bát thiên,
                         Bản vị thánh triều trừ tệ sự,
                         Cảm tương suy nhủ tích tàn niên
.                        “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại?
.                       Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền!”
                        Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
                         Hảo thu ngô cốt Chương giang biên?
Một tờ biểu tấu lên vua,
Tám nghìn dặm biếm ai ngờ Triều Châu.
Muốn trừ dị quái, mà đau,
Quản chi lòng dạ, tiếc đâu thân già.
Mây Tần che khuất nhà ta?
Tuyết lầy Lam ải ngựa sa rừng mờ!
Hẳn đây cháu định thực mơ
Thu xương ta ở bên bờ sông Chương?
.                            Phương Quang dịch.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
.                                Đoái thương muôn dặm tử phần,
                               Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.

Mối rường
Sách Quản Tử , mục Dân: Tề Hoàn công hỏi Quản Trọng:
–    Nước Tề ta vốn là một nước lớn. Ta mới nối ngôi, lòng dân chưa định, thế nước chưa yên. Nay muốn chỉnh đốn để gây được mối rường (giềng mối) thì điều gì làm trước?
Quản Trọng thưa :
–    Quốc hữu tứ duy: Lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Lễ bất du tiết. Nghĩa bất tự tiến. Liêm bất tế ác. Sỉ bất tòng uống. Cố bất du tiết, tắc thượng vị an. Bất tự tiến tắc dân vô xảo trá. Bất tế ác, tắc hành tự toàn. Bất tòng uống, tắc tà sự bất sinh… – Lễ, nghĩa, liêm, sỉ đó là bốn điều cốt yếu. Lễ không vượt phép tắc. Nghĩa không lụy tiến thân. Liêm không che điều bậy. Sỉ không theo điều trái. Bởi vậy, nếu không phạm quy pháp, ắt trên sẽ an. Không luồn lụy tiến thân ắt dân không gian dối. Không che chở điều bậy, phẩm hạnh ắt vẹn tròn. Không theo đuôi điều sai, ắt không sinh đạo tặc. Nay chúa công muốn chỉnh đốn lại mối rường thì nên giữ bốn điều ấy.
Thánh tông Lê Tư Thành  (1442-1497) – Dệt vải:
                                     Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương
.                                      Vậy phải lên ngôi gỡ
mối rường.

Muôn chung nghìn tứ
Vạn chung thiên thặng.
Ngày xưa lương của các quan lại được cấp bằng thóc. Chung là dụng cụ đo lường đựng được 6 hộc 4 đấu thóc. Lương tới muôn chung thường vào hàng khanh tướng.
Nghìn tứ: Được cấp nghìn cỗ xe đóng bốn ngựa kéo.
Muôn và nghìn chỉ số nhiều biểu trưng giàu sang, phú quý.
Trần Nguyên Đán (1326-1390), tự Băng Hồ. Thanh Hư động chủ, Chi Ngái, Chí Linh, Hải Dương – Ký tặng Nhị Khê kiểm chính (tặng thầy Kiểm chính) Nguyễn Ứng Long (vần lương):
“… Điếu nguyệt, canh vân hà thái tảo?
Thiên chung vạn vũ Tử vi lang!
Câu nguyệt, cày mây sao sớm vội, Muôn chung nghìn tứ bước quan trường.

Muôn sự tại trời
Lời Khổng Minh Gia Cát Lượng (181-234) nói với Lưu Bị:
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.
Nhân nguyện như thử như thử…thiên lý vị nhiên vị nhiên…
Tính việc do người, thành được do trời. Người tính như thế mà trời chưa cho thì làm gì được.
Nguyễn Du- Truyện Kiều:
Xưa nay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.

Muôn tía ngàn hồng
Thơ Chu Hy (1130-1200) đời Tống – bài Xuân nhật:
Thắng nhật tầm phương Tử thủy tân,
Vô biên quang cảnh nhất thời tân.
Đẳng nhàn thức đắc đông phong diện,
Vạn tử thiên hồng tống thị xuân.
Buổi đẹp trời đi tìm hoa ở bến Tử, quang cảnh bao la mỗi lúc một mới. Dễ gì nhìn thấy được mặt gió đông. Muôn tía ngàn hồng đều của mùa xuân cả.
Trạng Me Nguyễn Giản Thanh – Phụng thành xuân sắc:
Chợ chợ nhà nhà, trăm dáng tựa đồ bôi tám bức;
Thành thành thị thị, muôn tử chen thức ánh ngàn hồng.

Muốn sang bắt quàng làm họ
1. Từ thời Hán Lưu Bang, Lưu ban họ mình cho Lân Kính thành Lưu Kính vì có công dâng kế lập đô Trường An … gọi là tứ quốc tính (ban họ vua). Các đời vua Tàu sau vẫn theo, giữ hủ lệ đó.
2. Nước ta đời Lý: Ngô Tuấn đổi thành Lý Thường Kiệt…Đời Trần: Lê Tần đổi thành Trần Bình Trọng… Đời Lê: Đinh Liệt thành Lê Liệt, Phạm Vấn thành Lê Vấn…
Có người buồn như Lê Trãi khi bị mất họ.
Song có kẻ muốn làm sang bắt quàng làm họ… (như thời Chúa Trịnh, Đặng Kim xin đổi thành Trịnh An…)
Đến đời Lê Thánh tông (1460-1497), tháng 5-1467, Lễ bộ Thượng thư Phạm Công Nghị dâng biểu phân lẽ, đổi định:… Bầy tôi đã được tứ quốc tính đều nên đổi lại họ cũ của ông cha để tông phái hoàng tộc được phân minh, cội nguồn các họ được rõ ràng. Vua Lê Thánh tông bèn bãi bỏ hủ lệ đó.
Trần Văn Nghĩa –Thế tục phú:
Thấy người sang muốn bắt quàng làm họ, thuyền đua bánh lái cũng đua.
Làm kẻ khó muốn đánh đọ với giàu, húng mọc, tía tô cũng mọc.

Mưa Pháp
Vũ Hoa Thụy.
Pháp Hoa kinh : Sư Thích Tôn đang giảng kinh Pháp Hoa, thì trời mưa xuống bốn giống hoa gọi là Vũ Hoa Thụy. Đó là một trong sáu điều lành của kinh Pháp Hoa gọi chung là mưa Pháp.
Tương truyền, vào đời Lương Vũ đế, một pháp sư ngồi tụng kinh trên mỏm núi đá thuộc huyện Giang Minh, Giang Tô. Phật cho một cơn mưa pháp xuống. Nơi đây thành tên Vũ Hoa Đài.
.      Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn – Bâng khuâng phách quế:
Nhờ phép Phật dẫn ông lên cõi hoá, chứa chan dầm mưa Pháp mây từ.
Đến làng Tiên ông rộng mở đường tu, sớm tối niệm câu kinh tiếng kệ.

N

Nãi ông
Lời Lưu Bang tự xưng với kẻ dưới, nghìa là bố mày đây.
Kết quả hình ảnh cho hình ảnh lưu bang hán cao tổSử Ký : Lưu Bang (247?-195 trCN) xuất thân nông dân. Làm Đình trưởng Tứ Thượng (cổ chế 10 dặm là một đình). Không thích đọc sách. Nhưng thích rượu và thích gái!
Khi giải tù nhân đi Lịch Sơn, để xổng, sợ, trốn vào núi Mang Đảng mà làm giặc chống Tần, thành Hán Cao tổ năm 202trCN
Cũng như Tần Thủy hoàng, Hán Lưu Bang rất ghét nhà Nho. Cứ thấy mũ nhà Nho thì vạch dái “tè” vào. Lúc ấy Lục Giả, theo hầu Lưu Bang, vì có học nên thường đi sứ thuyết khách. Đến Việt Nam, Lục Giả thuyết được Triệu Đà thần phục Hán. Lưu Bang phong Lục chức Thái trung đại phu. Có lẽ quen miệng, Lục Giả hay nói đến Thi, Thư. Lưu nghe, nhiều điều không tỏ. Lộn ruột, bực mình mắng:“ Nãi công cư mã thượng nhi đắc chi, an sự thi thư!” – Như bố mày đây này, chỉ ngồi trên lưng ngựa mà cũng lấy được thiên hạ! Cần gì tới Thi với chả Thư. Lục Giả e hèm cúi đầu thưa:“ Cư mã thượng đắc chi, ninh khả dĩ mã thượng trị chi hồ?”- Ngồi trên mình ngựa lấy thiên hạ, rõ rồi. Liệu có thể ngồi trên đó mà cai trị được không nào?
Nguyễn Hữu Chỉnh – Trương Lưu hầu, phú:
Rờ rỡ thư son khoán sắt, lời nãi ông dù trỏ núi thề sông,
Thênh thênh non đá am thông, nguyền tiên tử đã quen mây nhuộm ráng.

Nằm gai nếm mật
Ngọa tân thường đảm
Sử Ký, Việt Vương Câu Tiễn thế gia: Việt Vương Câu Tiễn (505-465 trCN), vua nước Việt thời Đông Chu, bị vua Ngô Phù Sai bắt tù ở nhà đá phải cùng vợ chăn ngựa cho vua Ngô. Nhờ liên tục hối lộ rất hậu cho Thái tể Bá Hy nước Ngô. Theo kế Phạm Lãi, Câu Tiễn vào thăm Phù Sai và xin được nếm phân xét đoán hung cát. Nếm xong, Tiễn nói: Phân của Hoàng thượng vừa đắng vừa chua. Đến ngày Kỷ Tị thì đỡ. Ngày Nhâm Thân thì khỏi. Ngô Phù Sai nghe thế mừng lắm, không nghi ngờ Câu Tiễn nữa nên được tha.
Ôm chí phục thù, Câu Tiễn đêm nằm trên đống củi gai (ngọa tân). Nơi qua lại thì treo túi mật, lúc nào cũng nếm được (thường đảm), nhắc cái nhục của kẻ tù binh thua trận Cối Kê. Câu Tiễn đọc như câu thần chú, hàng ngày:“ Nhữ vong Cối Kê chi sỉ da?”- Mày quên cái nhục Cối Kê rồi sao?
Chiêu binh mãi mã luyện quân. Mỹ nhân kế. Cùng với tài ba Văn Chủng và Phạm Lãi, Câu Tiễn đã xóa sổ nước Ngô, trả được cái nhục Cối Kê 17 năm trước, khôi phục được giang san.
Nguyễn Trãi – Binh Ngô đại cáo.
                            Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời.
.                           Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối.
                                                                          Bản dịch Bùi Kỷ .

Nôm (na)
Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Thơ Nôm của Nguyễn Thuyên, mở đầu dòng thơ quốc âm. Ông, người huyện Thanh Lâm, Hải Dương. Thái học sinh năm Đinh Mùi (1247).
Là người đầu tiên sáng tạo mượn hoặc ghép chữ Hán lại thành chữ Nam (chữ Nôm). Trên cơ sở âm luật tiếng Việt và cách luật thơ Đường. Ông đã làm thơ quốc âm (thơ Nôm).
Vào tháng Tám năm 1282, Nguyễn Thuyên đang giữ chức Hình bộ Thượng thư. Lúc ấy, sông Phú Lương (sông Hồng) có nhiều cá sấu nổi lên làm hại dân chài. Nguyễn Thuyên đã làm bài văn Tế cá sấu, rồi ném xuống sông. Tự nhiên cá sấu biến mất.
Cũng như Hàn Dũ (768-824) khi làm Thị lang bộ Hình đời Đường Trung Quốc làm văn tế đuổi cá sấu sông Triệu Châu.
Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) nhân đó đã cho đổi tên Nguyễn Thuyên là Hàn Thuyên..Kiểu thơ ông đặt ra gọi Hàn luật.Bài Văn Tế cá sấu:
…Ngạc ngư kia hỡi mày có hay?
Biển Đông rộng rãi là nơi mày!
Phú Lương đây thuộc về Thánh vực.
Lạc lối đâu mà lại đến đây?
Hồ Chí Minh – Thư chúc Tết Nhâm Thìn – Năm 1952 :
Mấy câu thành thật Nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân.

Nuôi cọp hại mình
Dưỡng hổ di hoạn. Nuôi hổ chuốc nạn.
Truyện truyền kỳ, Trung Hoa: Có người chuyên nghề bẫy cá. Anh vào rừng bắt được con hổ con bị lạc về nuôi. Anh đem theo đặt ngồi gần bẫy cá để canh trộm. Mỗi khi đến đều hắng giọng báo hiệu. Lần nhậu say về, quên hắng giọng, hổ tưởng trộm nhảy xổ cắn chết .
Phan Bội Châu – Tỉnh quốc dân, phú:
Nuôi cọp, cọp hại mình, tiền bạc nó đều thu tận,
Chơi cò, cò mổ mắt, thành trì quét sạch lăng xâm.

Nuôi ong tay áo
Tâm phúc chi hoạn. Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.
Tả Truyện – Ai công thập nhất niên: Báo thù cái chết của vua ông là Ngô Hạp Lư, Cơ Phù Sai (495-473 trCN) dùng dũng tướng Ngũ Tử Tư đánh nước Việt. Hạ thành Cối Kê, bắt vợ chồng Việt vương Câu Tiễn về ở nhà đá, chăn ngựa.
Tể tướng nước Việt là Văn Chủng dùng rất nhiều vàng bạc đút lót cho kẻ tham lam, xiểm nịnh là con cáo Bá Hy, Thái tể của Phù Sai. Phạm Lãi vì vậy, vừa dùng nhục kế xin cho Câu Tiễn nếm phân Phù Sai lừa để chẩn bệnh, vừa dâng Tây Thi mỹ kế.
Ngô Phù Sai mù tín trước Bá Hy hoan lạc cùng những con ong đẹp nuột nà. trong cung Quán Giai, hồ bơi, vườn săn… Tướng quốc Ngũ Tử Tư can: Nước Việt với ta là tâm phúc chi hoạn không diệt thì chóng chầy, sẽ bị chúng tiêu diệt. Hôn ám,. Phù Sai ép Ngũ Tử Tư, Công Tôn Thành… tự sát.
Việt vương Câu Tiễn quyết phục thù. Phù Sai phải tự sát ở chân núi Dương Sơn. Nước Ngô bị xóa sổ năm 473trCN.
Ca dao:
Tâm phúc chi hoạn trong nhà,
Nuôi ong tay áo nào xa, với gần.

Nửa vầng trăng
Sư trụ trì chùa Hàn Sơn bến Cô Tô, nằm bên cửa sổ ngắm trăng thao thức, sinh tình, tức cảnh ra thơ:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nghĩ tiếp, thấy bí. Nhà sư tay quạt đập muỗi phành phạch.
Chú tiểu nằm bên thức giấc, rón rén đến thăm hỏi ngọc thể của thày. Thầy nói nguyên do. Tiểu lùi ra, đứng nhìn xuống bến Phong Kiều, bỗng thấy ánh nước long lanh như ánh trăng vỡ ra. Chú liền trở lại bên thầy, vò tai xin được tiếp:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm phủ để, bán phù không.
Bài thơ về nửa vầng trăng ra đời :
Mồng ba mồng bốn trăng mông lung,
Nửa giống câu liêm nửa giống cung.
Một mảnh trăng mờ phân hai nửa,
Nửa in đáy nước nửa không trung.
Nguyễn Du cũng đã xẻ nửa vầng trăng cho nỗi nhớ chia xa giữa Kiều với chàng Thúc Kỳ Tâm.
Và, Hàn Mặc Tử tặng Trần Thanh Địch Em nhớ mình xa:
Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi.
Tôi nhớ mình xa, thương đứt ruột,
Gió làm nên tội buổi chia phôi.
Nhà thơ Quang Chuyền – Cây lúa năm hai nghìn mười :
Tách ra một nửa trăng vàng
Con như hạt trấu bay ngang chân trời.

Nước chảy đá mòn
Thủy trích thạch xuyên
Truyện của La Đại Kính : Hạc lâm ngọc lộ – Nhất tiền trảm lại :
Đời Bắc Tống, Huyện lệnh Trương Vịnh, tự Phục Chi, hiệu Quan Nhai huyện Sùng Dương thấy viên quan Ngân khố dưới quyền lấy một quan tiền, nhét ở góc khăn quàng.
Y thừa nhận lấy tiền nhưng cho rằng chẳng đáng là bao nên cãi láo. Trương Vịnh đành phê vào án quyền: Một ngày ăn cắp một quan, ngàn ngày ngàn quan. Lâu rồi dây thừng cưa đứt gỗ. Nước rỏ thủng hòn đá (thủy trích thạch xuyên).
Thơ cổ – Chú tiểu Quỳnh Lâm
.                                         Cho dù nước chảy đá mòn
.                                  Mảnh gương còn đó trăng còn trơ trơ.

Nước trí non nhân
Quan niêm về nhân sinh xưa : Nhân giả, cốt cách quyết đoán vững chãi như núi. Trí giả, tuệ thông, linh hoạt như nước.
Luận Ngữ:“Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy.” (= Nước trí non nhân) hay trí nhân. Bậc nhân giả thú cảnh núi non, bậc trí giả thích cảnh thông thoáng nước.
Nguyễn Bỉnh Khiêm – Thơ Nôm :
.                                Đủng đỉnh hôm mai chơi nước trí,
.                                Nghêu ngao ngày tháng dạo non nhân.

O

Oản Bụt
Phương ngôn:“ Bụt Nam Sang chẳng từ oản chiêm.”
Làng Nam Sang tỉnh Hà Nam thuộc đồng chiêm trũng. Không trồng được lúa vụ mùa nên dùng gạo nếp vụ chiêm đồ xôi để cúng. Vì xôi chiêm khô cứng, không thể đóng oản để cúng Bụt như lệ thường, nên đơm đĩa xôi cho đầy, gọi Oản Bụt.
        Nhà văn Ngô Tất Tố (1894-1954) – Tắt Đèn (Tiểu thuyết, chương kết):
“… Ăn khoai mà cũng đẹp thế! Ba con rồi mà vẫn mơn mởn như gái mười tám. Chỉ tiếc cái oản bụt hơi xệ.

Ô Y hạng
Ngõ Áo đen.
Thời Tấn, ở phía nam Kiến Khang (Nam Kinh). Có hai họ quyền quý nổi tiếng Vương và Tạ. Con cái họ thường mặc quần áo đen. Họ đã lập nhóm thi văn “Ô Y chi du” hội ngộ văn chương.
1. Bắt đầu từ Vương Đạo, tự Mậu Hoàng làm đại phu ba đời vua Tấn. Cùng em là Vương Khoảng cha của Vương Hy Chi. Vốn người Lang Nha, Sơn Âm. Song do loạn Ngũ Hồ thập lục quốc nên rời về Cối Kê, Chiết Giang.
2. Họ Tạ nổi tiếng từ thời Tam Quốc, nhất là từ lúc vua Ngô Tôn Quyền làm rể. Điển hình là An tây tướng quân Tạ Dịch và em là Đại phu Tạ An. Sau này hai cháu là Tạ Thạch và Tạ Huyền (con Tạ Dịch) nhờ có Tạ An tham mưu, đã làm nên chiến tích diệt 90 vạn quân Phù Kiên (Tiên Tần) trên sông Hợp Phì (Phì Thủy), giữ chức Kiến Vũ tướng quân.
Tạ An (325-385) hiệu An Trạch quê Dương Hạ. Trí sĩ, ẩn ở Cối Kê, Chiết Giang. Cuối đời về Đông Sơn ca tửu với vũ nữ.
Nhà thơ Quách Tấn (1910-1992). Người Trường Định, Bình Khê, Bình Định – Đêm thu nghe quạ kêu:
.                                          Từ Ô Y hạng rủ nhau sang,
                                     Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng.

Ông Tơ
Theo cổ tích ông Tơ – bà Nguyệt:
Chung Hạo đời Đường, theo cha đi săn bị lạc vào rừng sâu, gặp một lão bà ngồi xe những sợi chỉ hồng. Chung hỏi, bà lão nói: Ta là Nguyệt Lão, đang xe duyên cho những đôi trai gái dưới trần. Hễ ta xe nhiều thì được yêu nhau nhiều. Chung lại hỏi: Thế bà có biết cháu sẽ kết duyên cùng ai không? Bà lão chỉ ông lão râu tóc bạc phơ, ngồi trong cửa hang. nói: việc ấy của ông ta. Rồi ông lão nói rằng Chung sẽ lấy đứa trẻ con nhà ăn mày ở đầu chợ Đông. Chung Hạo tò mò đến xem thấy một đứa trẻ nhếch nhách bẩn thỉu thì tức lắm. Hôm sau lấy cục đá đập vào đầu đứa bé rồi bỏ chạy. Thành đạt rồi, nghe có cô gái tên Tố Lan sắc nước hương trời cầm kỳ thi họa con gái Thái úy ở huyện Trúc Giang, Chung Hạo cố tới xin cưới làm vợ. Một hôm vợ chải tóc, nhìn thấy vết sẹo trên đầu, chàng bật nhớ chuyện cũ, hỏi ra thì đó, chính Chung là thủ phạm gây vết sẹo kia.
Giai thoại :
Nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966), thời trẻ có người con gái Kinh Bắc chết mê thơ ông. Vì thế nàng chết mệt đến nỗi mỗi lần gặp nhau, nàng trao tất tật những gì không thể nào quên. Ví như những nụ hôn cháy má; trước khi ông trở về Hà Nội. Có lần nhà thơ Yến Lan thấy ông không rửa một bên má suốt tuần. Ông khoe cái má còn trọn vòng son bỏng đỏ của nàng hằn trên đó, với lời thơ ông đọc nhấn nhá trọng âm:
.     Anh đi chẳng hẹn ngày về,
Chỉ thề ai buộc, tóc thề ai chôn!
.     Muốn gì em, muốn gì hơn?
Hôn hoàng nay lại hoàng hôn mai ngày.
.     Môi khô tóc liễu vai gày,
Anh xa em kẻ lông mày với ai?
.     Thơ không làm trọn một bài,
Rồi Nguyễn đọc một hơi:
“ Đàn không gượng gảy một vài khúc ngâm.
.     Ông Tơ già lắm nên nhầm,
Ai cho xum họp ai làm chia phôi!
.    Chả thà đừng kết duyên đôi,
Có cho xum họp để rồi xa nhau.
.    Tính năm tính tháng thêm rầu,
Ấy hai con én trên đầu bay bay!”

P

Phật ở tâm
TKết quả hình ảnh cho hình ảnh cúng phậthiền phái Nam tông Huệ Năng, trong Pháp bảo đàn kinh: “Nhất niệm giác tức Phật, nhất niệm mê tức chúng sinh.”- Chỉ cần giác ngộ, khắc thành Phật. Vẫn mê muội thì là chúng sinh.
Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân tông (1258-1308) trong Cư trần lạc đạo: “ Pháp tức là tính. Phật tức là tâm”
Chuyện kể rằng Dương Phú nhà nghèo, vì mải sương nắng phụng dưỡng cha mẹ nên không tới chùa. Nghe có vị chân tu quảng đại Võ Tề bên đất Thục, anh cố đi chiêm ngưỡng một lần. Dương Phú gặp hỏi đường một vị lão tăng. Lão Tăng nói:
– Được gặp Võ Tề sao bằng gặp Phật!
– Dạ, thưa Phật ở đâu ạ?
– Anh cứ quay trở về, gặp người nào khoác cái áo giống thế này, xỏ đôi dép ngược như thế này, ấy chính là Phật đấy.
Dương Phú nghe lời, về tới nhà vào lúc đêm khuya. Mẹ mừng quýnh quáng ra mở cửa. Trước mặt anh, Phật hiện hình, giống hệt dáng người lão tăng đã chỉ, khoác tấm chăn đơn, chân xỏ đôi dép ngược.
Thiền sư Tuệ Trung Thượng sĩ (Hưng Ninh vương Trần Tung 1230-1291)– Phật tâm ca:
Tâm tức Phật. Phật tức tâm.
                              Diệu chỉ minh linh đạt cổ câm.
                              Xuân lai tự thị hoa xuân tiếu
                              Thu đáo vô phi thu thủy thâm.
Tâm ở Phật. Phật ở tâm.
Lính diệu chiếu cùng kim cổ thông.
Xuân đến tự hoa xuân mỉm miệng,
Thu về đâu chẳng nước thu trong.

Phong thủy
Gió và nước.
Từ dùng đầu tiên cho các thày địa lý tìm chỗ đất tốt chôn người chết. Nơi đó phải thỏa mãn quan niệm, lấy khí làm chủ.
Quách Phác (tổ sư của phong thủy) ghi:“ Khi dương theo gió mà đi. Khí âm theo nước mà đến. Lý ở trong khí. Khí ở trong hình. Sinh khí cũng nằm trong đó.”. Nếu gió có thể làm tan sinh khí  thì ngôi mộ phải có nước để giữ sinh khí lại.
Dựa vào quan niệm tương tự, từ phong thủy được mở rộng đưa ra năm loại hình: long, huyệt, sa, thủy, hướng để định hướng suy đoán tốt xấu, hên xui…
      Nhà thơ Lê Hưng VKD. Sinh 1939.. Người Thủ Dầu Một, Bình Dương. Gốc Hưng Yên.– Danh thắng Đại Nam:
                                 Đại Nam hề, phúc duyên kim cổ
.                                Phong thủy hề, cảm thụ quốc gia.

Phú (thơ)
Theo Mao Thi tự: “ Thi hữu lục nghĩa yên. Nhất viết phong, nhị viết phú, tam viết tỉ, tứ viết hứng, ngũ viết nhã, lục viết tụng.” – Sáng tác thơ có sáu cách, phong, phú, tỉ, hứng, nhã và tụng.
Phú hiểu là một thể loại văn học, bắt đầu với phú thiên của Tuân Khanh, được coi là tổ phụ của phú học Trung Hoa.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng phú phát triển cùng đạo Nho. Vì thế cùng đạo Nho du nhập vào nước ta, có lẽ từ thời Hán. Phát triển mạnh vào thời Đường.
Lê Quý Đôn viết trong Kiến văn Tiểu lục – thiên Chương: “ Văn đời Lý phần nhiều dùng lối biền ngẫu. Lời văn, văn hoa tươi đẹp còn giống như thể văn đời Đường. Đến đời Trần thì văn chỉnh tề, giống khí phẩm người đời Tống.”
Tế tửu Vũ Duy Thanh (1807-1858) – Cổ kim danh thắng:
Sẵn sách đèn ư một túi,
Thi phong nguyệt ư lưng bầu,
Phú nên mấy vận,
Thơ vịnh vài câu.

Phủ ngưỡng
Trong tư tưởng Tam lạc.
Mạnh Tử viết ở thiên Tân tâm (thượng):
Phụ mẫu câu tồn, huynh đệ vô cố, nhất lạc dã.
Ngưỡng bất quỹ ư thiên, phủ bất tạc ư nhân, nhị lạc dã.
Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi, tam lạc dã.
Cha mẹ còn, anh em thuận, là vui thứ nhất. Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống chẳng hổ với người, ấy là vui thứ nhì. Được kẻ hiền mà dạy ấy là vui thứ ba.
Nguyễn Hữu Chỉnh – Trương Lưu hầu, phú:
Đạo ấy, sá bàn chân với ngụy, đấng cao minh chi vướng sự hữu vô,
Lòng này ai biết Hán hay Hàn, phải biện bạch kẻo thẹn cùng phủ – ngưỡng.

Phượng cầu Hoàng
Chim trống tìm chim mái
Tư Mã Tương Như, tự Trường Khanh, cầm, kỳ, thi, họa.
Một lần Vương Cát, bạn Tư Mã, huyện lệnh Lâm Cùng, rủ đi dự tiệc nhà Trác Vương tôn. Biết cầm thủ trác tuyệt nên mời Tương Như vài trương. Cầm lục ý cầm, Tương Như dạo hai khúc Phượng cầu kỳ hoàng(*):
Phượng hề, Phượng hề quy cố hương.
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,
Thời ngộ vị hề vô sở tương,
Hà ngộ kim tịch thăng tư đường.
Hữu diễm thục nữ xử lan phường,
Thất nhĩ nhân hà độc ngã trường.
Hà duyên giao cảnh vi uyên ương,
Tương hiệt cương hề cộng cao tường?
Phượng ơi về làm tổ đi thôi. Đi bốn biển tìm hoàng đó.
Thời chưa gặp duyên lỡ làng nay bước tới chốn thênh thang.
Ơi người đẹp ở đài trang, nhà gần, người xa buồn vô tận.
Ước thành uyên ương, cùng nhau chao liệng thỏa lòng?
Con gái Trác Vương là Văn Quân góa chồng. Giỏi âm luật. Nghe mà rụng rời trước ngón đàn Tư Mã Tương Như. Lén nhận cầu hôn. Văn Quân cuốn gói trốn theo. Trường Khanh bán xe ngựa mở tiệm rượu cho hai trái tim vàng nương náu trong túp lều tranh trên đất Đô Đình, Lâm Cùng, xứ Thục.
Tương truyền, Hán Vũ đế đọc bài Tử hư phú khen hay, phong Tương Như chức quan nhỏ.
Nhờ bài Trường Môn phú của Tư Mã Tương Như, Trần hoàng hậu được Hán Vũ đế tha tội . x. A Kiều & x. Cầu xe ngựa.
Người người tới xin chữ Tương Như ầm ào đến nỗi giấy viết ở chợ tự nhiên đắt giá (Phú tựu Lạc Dương chỉ giá cao).
Nguyễn Du -Truyện Kiều:
.                                         Khúc đâu Tư Mã Phượng cầu,
.                                    Nghe ra như oán như sầu phải chăng.
___
* Tương truyền bản này của Lộng Ngọc đàn với Tiêu Sử

 

Q


Qua cầu cất nhịp
Quá hà sách kiều. Qua sông dỡ cầu
Sách Nguyên sử, truyện Triệt lý Thiếp Mộc Nhi:
Hứa Hữu Nhâm đời Nguyên hoạn lộ đến chức Tham chính nhờ từ khoa cử mà lên. Nhưng sau này đồng tình với chủ trương phế bỏ chế độ khoa cử của Triệt Lý Thiếp Mộc Nhi. Ngự sử Phổ Hóa châm biếm Hứa Hữu Nhâm: Tham chính, có thể gọi ông là quá hà sách kiều (qua cầu rút ván) rồi đó.
Phan Bội Châu – Tỉnh quốc dân, phú:
Cũng có kẻ qua cầu cất nhịp, chỉ biết những đồng tiền lương bạc, cương thường nhẹ bỗng chữ trinh trung.
Cũng có thằng theo đuốc ăn tàn, quyết một bài uốn lưỡi cắn răng ngậm miệng nín hơi đua những thói.

Quý hồ tinh, bất quý hồ đa
Nghìn tấm da dê không bằng nhúm lông nách của con hồ tinh.
1.
Sử KýThương Quân liệt truyện. Một lần Thương Ưởng (390-338 trCN) Thừa tướng của Tần Hiếu công (361-338 trCN) hội kiến với ẩn sĩ Triệu Lương, học giả uyên bác của nước Tần:
–   Nước Tần do ta cai trị từ một nước còn yếu kém gần trở thành nước cường thịnh ở Trung Nguyên rồi. Ông thử xem, ta so với Bách Lý Hề (Tể tướng thời Tần Mục công 659-621 trCN) ai giỏi hơn?
Triệu Lương trầm tư một lúc rồi nói:
–   Một nghìn tấm da dê(1) không bằng nhất hồ chi dịch (nhúm lông nách của con cáo). Một nghìn người vâng dạ, không bằng một người tri thức nói ngay. Chu Vũ vương nhờ biết nghe bầy tôi nên đất nước thịnh vượng. Vua Trụ nhà Thương, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên can nên bị diệt. Nếu ngài bằng lòng với cách làm của vua Vũ thì tôi có vài lời tâm phúc.
    Nhất hồ chi dịch  được sáng tạo Quý hồ tinh bất quý hồ đa
2. Sử Ký – Nho Lâm liệt truyện:  “ Vị trị giả bất tại đa ngôn, cố lực hành hà như nhĩ. ”- Trị quốc không quý ở nhiều lời, mà quý ở việc làm được.
      Nhà văn Hương Nhu – Ký ức miền chân sóng (Chương 3):
–    Là cái chuyện nhà thơ nói về hình tượng nhân vật trong văn học ban sáng ấy mà. Quỳnh thấy hay không?
      –   Hay! – Quỳnh buột miệng nói như một lời cửa miệng
     –    Thì ra cái hồn thơ nó nằm ngay trong những ngôn từ đắc địa. Sự tương tác từng con chữ tạo nên bức chân dung nhân vật, đâu có phải cần nhiều?
–    Quý hồ tinh bất quý hồ đa mà!
___
1. Bách Lý Hề, người nước Ngu. Ngu bị nước Tấn diệt năm 655trCN. Lý Hề bị bắt ở nước Sở. Biết người tài, Tần Mục công đã chuộc lại bằng 5 bộ da dê (Ngũ cổ nhục). Cổ là con dê đực đen

Quỷ Cốc tử
Hiệu Vương Hủ thời Tấn Bình công (557-532 trCN). Người Văn Mộng Sơn, bạn Mặc Địch cùng nước Tống với Tôn Tử.
Là tổ phụ của Số học (nhật nguyệt tượng vĩ thu trong lòng tay); Binh pháp (lục thao, tam lược); Du thuyết (lý thế, hùng biện) và Xuất thế (giữ chân tính và luyện thuốc tu tiên).
Ông đến hang Quỷ Cốc (lũng Quỷ) đất Dương Thành (nước Chu) để tu đạo nên thường gọi Quỷ Cốc tiên sinh.
Học trò của ông: Tôn Tẫn (nước Tề), Bàng Quyên, Trương Nghi (nước Ngụy), Tô Tần (nước Chu)…
Tương truyền, tiễn hai học trò Tô Tần và Trương Nghi đi, Quỷ Cốc tử cũng rời lũng Qủy để lên tiên.
Nguyễn Đình Chiểu – Ngư Tiều vấn đáp:
Thà như Quỷ cốc tiên sinh
Gặp thời Chiến Quốc thanh danh chẳng sờn.

Quỷ Dạ xoa
Chữ Phạn: Yakasha. Yarsha.
Từ dùng trong các kinh Kim Quang Minh, Đại bát Niết Bàn… trong Phật giáo. Còn thấy dùng trong đạo Cao Đài, Hin đu.
Theo đạo Phật, quỷ nằm trong cõi Ngạ Quỷ. Có loại quỷ Dạ xoa, quỷ La xát. Quỷ mang hình hài tham, si: miệng rộng, họng bé, bung ỏng, què quặt. Và thể hiện sân, hận: bộ mặt quái dị, hung dữ, răng nhọn hình lưỡi cưa.
Kinh Phật: Đức Phật nhập hạ thứ 16 ở Alavi, tả ngạn sông Ganga. Phật vào một đền thờ thần Visnu (Tỳ nữu) hoang vắng thờ quỷ Dạ xoa Alavaka, để ngồi nhờ tham thiền. Bị quỷ đuổi ra, xui vào mấy lần, Phật có ý phản đối. Quỷ nói, nếu không trả lời được 13 câu hỏi của y thì sẽ phân tâm, cắt tim, xé xác. Sau khi trả lời thỏa đáng 13 câu hỏi rồi, quỷ ngộ ra, Phật nhủ:
– Này Alaka, muốn an lạc phải giữ giới thanh tịnh, nhất là bốn trọng giới sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối.
Alaka nhăn nhó:
– Với ba giới kia còn có thể giữ chứ vốn con nòi giống lớn bằng máu thịt, không ăn biết lấy gì sống?
– Ta sẽ nói với các vị khất sỹ (Tỳ-kheo) – Đức Phật nói – Từ nay vào mỗi buổi ngọ trai, thường xuyên thí thực cho ngươi.
Vì thế các chùa có buổi thí thực trưa.
Phạm Thái – Chiến “Tụng Tây Hồ ” phú:
Quỷ Dạ xoa quấy Bụt xuống chi đây,
Người bách nghệ đến đâu đều khổ não.

Quỷ Satan
Gốc từ Abrahamrong (Do Thái giáo, Kito giáo, Hồi giáo…)
Kinh Thánh, quỷ Satan có tên Lucifer là một thiên thần do chúa Trời tạo ra. Ngày chúa tạo dựng loài người, chúa cho cả hồn lẫn xác. Bọn quỷ ghen tị dụ loài người ăn trái cấm để mắc vào vòng tội lỗi. Vì nổi loạn chống trời nên bọn quỷ bị đuổi khỏi Thiên đường.
Satan được miêu tả có bộ mặt dữ dằn với hai sừng nhọn hoắt trên đầu. Vương quốc Satan dưới địa ngục. Satan là thủ lĩnh có quyền sai khiến các quỷ thần khác như thần gian dối, thần cám dỗ, kế độc…. Có thể nhập vào người xúi làm điều ác độc.
Từ thế kỷ XII, ở Pháp xuât hiện Lễ hội Đen thờ quỷ thần Satan với nghi lễ bằng các bộ phận sinh dục loài thú và các hành vi tình dục kỳ quái thác loạn tập thể của tín đồ. Nổi lên ở thế kỷ XVI với người chủ xướng là nữ hoàng Cathérine de Medicin và thế kỷ XVII là thày dòng Cathérine Monvoisin.
Ngày nay, các nước Mỹ (từ 4-1966), Pháp, Ý, Nam Phi đang phải đương đầu với sự bùng nổ tệ nạn của các đệ tử quỷ Satan.
Nhà thơ Tất Nhiên –Hai hàng me ở đường Gia Long:
Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ Satan
Bởi hạnh phúc mơ hồ như thượng đế.

Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh
Vào những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp (từ 19-12-1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các chiến sĩ quyết tử Thủ đô Hà Nội: “Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ Quốc quyết sinh…” .
Trở thành lời thề quyết tử không chỉ trong suốt 60 ngày đêm sống mái với quân thù ở thủ đô. Mà còn vang mãi trong lòng người yêu tổ quốc, chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
Nhà thơ Nguyễn Tùng Linh, sinh 1946 tại An Hải, Hải Phòng – Về một bức tranh in đá:
Người cha thân yêu tôi chưa hề biết mặt,
Mũ ca-lô, áo trấn thủ lên đường,
Rung thủ đô lời thề quyết tử “ Tiến mau ra sa trường…”

Quỳnh Uyển cửu ca
Chín khúc ca vườn Quỳnh.
Hai năm liền 1493-1494, niên hiệu Hồng Đức, thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, lòng người phấn khởi. Vua Lê Thánh tông lấy làm phấn chấn viết chín khúc ca vườn quỳnh. Các thần triều xướng họa 250 bài. Tao Đàn sinh ra từ đó.
Sản phẩm đáng kể của Tao Đàn, đã soạn bộ Thiên Nam dư hạ tập 100 quyển. Sách chép đủ hết các luật lệ của các chế độ, điển, lệ, sắc, cáo, thơ ca…
Quỳnh uyển cửu ca loại văn chương tháp ngà.
Trong bài tựa của Đào Cử :“ Giữa thì nói đạo làm vua đạo làm tôi… Sau mượn cảnh vật ngụ tình hoài để khích lệ tiết tháo trong sạch.”
Quỳnh Uyển cửu ca gồm:
Phong niên (được mùa), Quân đạo (trách nhiệm làm vua), Thần tiết (nhiệm vụ làm quan), Minh lương (vua sáng, tôi hiền), Anh hiền (những người tài giỏi), Kỳ khí (những vật lạ), Thư thảo (sách vở), Văn nhân, Mai hoa (phú quý vinh hoa).
Những bài xướng họa hợp thành bảy tập:
1. Hồng Đức quốc âm thi tập (chữ Nôm).
2. Minh hương cẩm tú.
3. Văn minh cổ xúy.
4. Chinh tây kỷ hành.
5. Cổ tâm bách vịnh .
6. Xuân văn thi tập.
7. Quỳnh uyển cửu ca.
Ví dụ: Bài
Vịnh người đánh cá:
Nẻo đầu kể bốn thú nhàn cư,
Song viết ai bằng song viết ngư?
Tám bức giang sơn thu vẹn tám,
Tư mùa phong cảnh đủ hòa tư!
Dong thuyền đợi tiên Tô tử,
Ném chèo ca khúc Sở từ.
Nọ nọ Bàn Khê công nghiệp cả,
Xuân Thu lần kể tám mươi dư.

R

Răng cắn phải lưỡi
Răng không cắn, cắn phải lưỡi (Tục ngữ)
Vua Tự Đức (1847-1883) ngự thiện, vô tình răng cắn phải lưỡi. Xuýt xoa vua ngẫu hứng nói với quần thần văn sĩ thử làm thơ theo tứ này. Các quan viên làm rồi đọc tại chỗ. Bài của Thị lang Hình bộ Giải nguyên Nguyễn Hàm Ninh (tự Thuận Chi, hiệu Tịnh Trai người làng Trung Ái, Quảng Trạch, Quảng Bình) được coi là thơ nhất:
.                                Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh,
                                 Nhĩ sinh chi hậu, ngã vi huynh.
                                 Nhất đường cộng hưởng trân cam vị,
                                 Hà nhẫn tương thương cốt nhục tình.
Ta thuở sinh ra chú chửa sinh, Chú phận làm em ta phận anh. Ngọt bùi sao chẳng cùng chung hưởng, Mà nỡ đau thương cốt nhục tình!
Tự Đức thưởng mỗi câu thơ một lượng vàng. Nhưng thơ chạm nọc. Do đó phạt Hàm Ninh mỗi chữ bị đánh một trượng.
Chuyện là năm Đinh Mùi (1847) vua Thiệu Trị lâm bệnh, các hoàng tử bên cạnh. khi đó con trưởng Hồng Bảo đi hát cô đầu. Thiệu Trị than “ Hồng Bảo tính phóng đãng không thể đảm đương được quốc gia đại sự.” Ông cho lập Hồng Nhậm lên ngôi vua hiệu Tự Đức. Năm 1854 Tự Đức cho giết Hồng Bảo để giữ an ngôi vị.

Răng cứng, lưỡi mềm
Thuyết Uyển: Thường Tung yếu. Lão Tử đến thăm, hỏi:
– Thày xem ra mệt nặng. Dám hỏi còn có câu gì dạy đệ tử nữa không?
– Qua chỗ cố hương mà xuống xe. – Thường Tung nói – Ngươi biết điều ấy chưa?
– Thưa có phải nghĩa là không quên ơn quê cha đất tổ?
– Ừ phải đấy. Thế qua chỗ cây cao mà bước rảo chân. Ngươi đã biết điều ấy chưa?
– Dạ, thưa có phải là kính các bậc già cả không?
– Phải đấy – miệng há cho Lão Tử coi – Lưỡi ta còn không?
Lão Tử nhòm, thưa:
– Dạ, còn!
– Răng ta còn không?- Thường Tung lại nhe miệng hỏi.
– Rụng hết cả!
– Thế ngươi có rõ cái lý do ấy không?
– Ôi lưỡi còn lại có phải là lưỡi mềm không? Răng mà rụng hết có phải là tại răng cứng không?
– Ừ, phải đấy. Việc đời đại để như thế cả. Ta không còn gì để nói cùng các ngươi nữa.
Giai thoại:
Thí sinh Nguyễn Hòe cuối đời Lê, đi thi gặp phải quan chủ khảo tên Hòe. Giám thị xướng danh chệch là Huề. Hòe không chịu mà còn lợi dụng xỏ lại. Khi gọi đúng tên, ông thưa: Có thằng Hòe đây! Quan chủ khảo căm nhưng cũng phải phục tài mà ra vế đối:
“ Xỉ tính cương. Thiệt tính nhu. Cương tính bất như tính cửu” – Răng cứng. Lưỡi mềm. Cứng sao bằng mềm bền lâu. Hòe đối lại: “Mi sinh tiền. Tu sinh hậu. Tiền sinh bất nhược hậu sinh trường.”- Lông mày sinh trước. Râu sinh sau. Sinh trước chẳng dài bằng sinh sau.

Rửa tai
Tẩy nhĩ.
Truyện Cao sĩ Hứa Do. Hứa Do và Sào Phủ là hai cao sĩ thời Đường Nghiêu (2347-2246 trCN). Vua Nghiêu mời Sào Phủ làm vua thay mình. Sào Phủ liền bỏ vào núi Cơ Sơn  huyện Đăng Phong, Hà Nam làm tổ ẩn trên cây (sào phủ). Đeo bầu nước suối trong để uống.
Hứa Do tự Vũ Trọng, người Hòe Lý đất Dương Thành ở ẩn trong chầm Bái Trạch. Vua Nghiêu nghe tiếng hiền tài liền giả trang đến gặp Hứa Do nói nhường thiên hạ. Hứa Do đáp:
–    Con Tiêu Liêu (chim chích) làm tổ không quá một nhành cây. Con Yến Thử (chuột) uống nước chỉ đến no bụng. Kẻ quê mùa này dùng thiên hạ mà làm gì?
Nói rồi, Hứa Do bịt hai lỗ tai chạy xuống sông Dĩnh rửa lia lịa. Sào Phủ đưa trâu đi uống nước thấy vậy, hỏi:
–    Tai anh làm sao mà phải rửa hoài vậy?
Hứa Do đáp:
–    Vua Nghiêu bảo tôi có tài và nhân đức muốn nhường ngôi cho. Nghe, tôi sợ bẩn tai nên phải rửa đi cho sạch.
Sào Phủ liền dắt trâu lên đầu dòng. Hứa Do hỏi:
–      Sao anh lại dắt trâu lên đó?
–    Tôi không muốn trâu uống phải nước anh rửa tai, làm bẩn  miệng trâu tôi  – Sào Phủ trả lời.
Thư giãn:
Chồng muốn tòm tem nhưng vợ lý do:
–     Khách nằm sát vách mà nghe thấy thì…!
–    
Có mà đút vào lỗ tai ông ấy cũng chẳng biết.
Sáng, thấy khách cứ loay hoay
rửa tai hoài, vợ bèn hỏi:
–    
Tai bác làm sao thế?
–    Sợ tối qua ngủ quên bị đút nhầm nên rửa cho sạch.
–    Thấy chưa? – Vợ nguýt chồng.

Rừng hạnh
Cây hạnh, tên khoa học Prunnus armeniaca Lamk
Còn gọi mai (mơ). Họ hoa hồng. Mùa xuân hoa trắng, nở sớm. Trái mơ giải khát. Ô mai (mơ khô muối ) trị ho. Nước hạt mơ giảm ho, trừ đờm. Trị khó thở, phù thũng.
Thời Tam Quốc, đất Lô Sơn có người thầy thuốc tên Đổng Phụng, chỉ chữa bệnh từ thiện. Nhưng ông yêu cầu ai bệnh nặng khỏi thì trồng 5 cây hạnh. Ai bệnh nhẹ thì trồng một cây trên đồi bên nhà ông. Sau này thành rừng hạnh.
Người đời gọi là rừng hạnh của Tiên. Gọi ông là Đổng Tiên hạnh lâm.
Người ta lấy từ rừng hạnh (hạnh lâm) chỉ y đức hoặc người thầy thuốc tài hoa.
Văn bia y miếu Hà Nội :
Việc vun đức lập công thì dùng nhân thuật của giếng quýt, rừng hạnh.

Rừng Nhan – Khổng
1. Khổng Tử (551-479 trCN). Quán Trâu Ấp, làng Xương Bình, nước Lỗ (Sơn Đông).
Khổng Tử gốc tổ là Chính Khảo Phủ giúp Đới công, Vũ công, Tuyên công nhà Chu ba lần làm thượng khanh nhưng rất khiêm tốn, cung kính. Cha Thúc Lương Ngột, viên dũng tướng rất khỏe nâng nổi cánh cửa thành Bức Dương. Năm 60 tuổi, lấy thiếp, người gái út họ Nhan tên Trưng Tại, 20 tuổi. Thúc ông đưa vợ đi cầu may cho đứa con sắp ra đời ở núi Ni Khâu, đông nam đô thành Khúc Phụ nước Lỗ. Đêm nghỉ ở động Không Tang bà trở dạ sinh con đặt tên Khâu, tự Trọng Ni.
Mồ côi cha lúc lên ba. Mẹ phải rời làng Lịch Xương đến thành Khúc Phụ. Tần tảo nuôi con, ân cần dạy dỗ đến tuổi lên 10 thì bà mất. Thông minh và ý chí, không lâu, Khâu có vốn kiến thức uyên thâm. Tuổi 30 Khổng Khâu làm chức Tư khấu, xét xử việc hình, nước Lỗ. Nhưng chỉ 3 tháng xin từ chức trước sự đam mê sắc dục của vua mà lời khuyên của ông bất lực.
Với tư tưởng nhân nghĩa, hòa bình, chất chứa tính triết lý giáo dục, ông đã qua Vệ, Tề, Tống, Sở, Sái, Trần… để truyền bá. Song thời của tranh hùng đoạt bá, lời ông sao thấm tháp.
Khổng trở về Lỗ mở trường dạy học, biên soạn: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu và Nhạc. Là người mở đầu và đặt nền móng học thuyết Nho giáo. Học trò có đến ba nghìn. Có nhiều người nổi tiếng như Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Cống, Tử Lộ…
Với Khổng, đạo đức được coi trọng hàng đầu. Mỗi một cá thể có một chuẩn mực nhất định liên kết nhau thành một cộng đồng. Biểu hiện mỗi nội dung như một quy phạm khái quát, có khi chỉ trong một từ. Ví dụ: Nhân, nghĩa… quân, thần phụ, tử….
Về Giáo dục: Mục đích ông uốn nắn nhân cách con người và bồi dưỡng nhân tài. “Nhân bất học bất tri đạo ”. Học phải đi đôi với hành – “Học nhi bất tư tắc võng”.
Về chính trị: Phản đối pháp trị. Lấy đức trị. Muốn có đức trị phải coi trọng con người, phải học hành, kinh tế phát triển. Mỗi người có cái “phận” của mình quy định bằng cái danh. Đấy là “chính danh”. Một lần Tề Cảnh công hỏi việc chính trị, Khổng đáp: “Quân quân. Thần thần. Phụ phụ. Tử tử”- Vua ra vua. Tôi ra tôi. Cha ra cha. Con ra con.
Thuyết chính danh đưa ra cái “định phận” con người!?
Về triết học, ông, người vô thần “ Quỷ thần kính nhi viễn chi”- Quỷ thần nên kính mà không nên nói đến. Ông nói: “Tứ thì hành yên, vạn vật sinh yên, thiên hà ngôn tai.”- Bốn mùa đắp đổi muôn vật sinh sôi, trời có nói gì đâu! Nhưng quan tâm đến sự tương tác giữa các hiện tượng thiên nhiên và sự tác động của nó vào con người: thiên, địa, nhân. Con người có thể “tri thiên mệnh”.
2. Nhan Hồi tự Tử Uyên nên gọi Nhan Uyên. Ít hơn Khổng Tử 30 tuổi. Học trò giỏi số 1 của Khổng Tử. Trong tứ phối cùng Mạnh Kha, Tăng Sâm, Khổng Cấp. x. Bầu Nhan Uyên
Cao Bá Quát – Tài tử đa cùng, phú:
Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan- Khổng, chí xông pha nào quản chông gai,
Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình- Chu, tài bay nhảy ngại chi lao khổ.
Rừng tía
Quán Thế Âm Bồ Tát ở Tử Phúc Lâm (rừng Trúc tía). Từ đó lấy từ này chỉ cõi Phật.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

Rường cột
Lương đống.
Rường mái nhà, Hán -Việt gọi là lương. Đòn nóc nhà là đống.
Ví mối tương quan nhân sự trong cơ quan cai trị cũ cũng như thế. Nên gọi rường cột hay, lương đống.
Sách Cảnh hành lục:“ Mộc hữu sở dưỡng tắc căn bản cố nhi chi diệp mậu, đống lương chi tài thành.”- Cây có chỗ nuôi thì gốc rễ bền, cành lá tốt, nên được sức làm rường cột.
Phan Bội Châu – Tâm huyết phú:
Xúm tay vào kéo lại non sông, non sông nọ ơ hờ ơ hở,
Ghé vai lại dựng nên rường cột, rường cột này ghê gớm ghê ghinh.

Rượu cửa Hồng
Hồng Môn tửu yến
Vào lúc Tần mạt, Hạng Vũ và Lưu Bang nổi dậy tranh nhau đoạt chức bá chủ. Sức của Hạng mạnh hơn nên Lưu phải xuống nước nhỏ. Nhân có Hạng Bá chú Hạng Vũ chạy sang, Bang nhờ Bá nói với Vũ cho đến Hồng Môn để xin lỗi.
Á phủ Phạm Tăng 70 tuổi, lập mưu, nhân lúc Hạng chúc rượu thì giết Lưu. Song, Lưu phân bua, chỉ vì quân đang ở thế Trường khu trục nhập (tiến nhanh vào thẳng) mà vào Quan Trung chứ hoàn toàn không có ý xưng vương.
Thấy ngữ điệu thật thà, Hạng bỏ ý giết Lưu. Đã đến lần thứ ba Phạm Tăng hạ vòng ngọc quyết ra ám hiệu giết Lưu nhưng Hạng vờ như không nhìn thấy. Tăng giận bỏ ra ngoài nói với Hạng Trang em trai của Vũ:
– Quân vương là người bất nhẫn. Anh phải vào chúc thọ, nhân lúc múa kiếm mà đâm Bái công.
Mũi kiếm Hạng Trang cứ ngoáy tít trước Lưu Bang. Hạng Bá phải đứng dậy múa kiếm với Hạng Trang bảo vệ Lưu.
Trương Lương phải gọi Phàn Khoái vào. Khoái vốn xuất thân làm nghề giết chó. Khoái trương mắt nhìn chằm chằm Hạng Vũ, nói một hơi về nghĩa lý. Hạng Vũ nể sợ phải khen Phàn. Thừa cơ Hạng Vũ say, Phàn Khoái hộ tống Lưu trốn về.
Trương Lương ở lại dâng đôi ngọc bích lên Hạng Vũ, dâng đôi chén ngọc lên Phạm Tăng. Tăng tức điên, rút ngay kiếm đập tan chén ngọc, rủa Hạng:
– Hừ! Không thể cùng bàn mưu kế với thằng trẻ con. Người được thiên hạ phải là Bái Công. Bọn ta rồi sẽ bị là tù binh hết cả.
Nguyễn Hữu Chỉnh – Trương Lưu hầu, phú:
Cung Tần rót một liều thuốc đắng, bệnh phú ông tỉnh lại lúc tê mê,
Cửa Hồng khuyên ba chén rượu nồng, hồn quý phụ xiêu về cơn chuếnh choáng.

Rượu sen phường Thụy
Làng Võng bán lợn bán gà,
Thụy Chương nấu rượu la đà cả đêm.
Thụy Chương với danh lam Phật say phường Thụy một trong tám cảnh nổi tiếng của Tây Hồ, Hà Nội xưa.
Tương truyền, nơi đây có rượu sen ngon đến mức Phật cũng không cưỡng nổi nên đã uống say nhiều lần. Dân làng lấy tích này, đã đúc tượng Phật say thờ ở chùa Đõ.
Rượu sen phường Thụy làm từ cơm nếp ủ men. Mỗi lượt cơm rượu xen lượt nhụy sen. Cất rượu sẽ được loại rượu ngon thơm vị sen. Sự nổi tiếng không kém rượu thôn Hạnh Hoa, trong thơ Đỗ Mục, bên Tàu :“ Tá vấn tửu gia hà xứ hữu, Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.” – Hỏi thăm quán rượu nơi nào có, Trẻ trâu chỉ tới Hạnh Hoa thôn.
Phạm Đình Hổ – Vũ Trung tùy bút :“ Khi nào khách cần thết rượu, thì dùng cái chén nhỏ bằng đầu ngón tay cái mà uống. Vài chén rồi thôi ngay. Nếu mời uống quá, ai cũng chê là đắm say!”
Vũ Tôn Phan (1804-1862) hiệu Lỗ Am. Người làng Tự Tháp, Hoàn Kiếm, Hà Nội – Rượu sen phường Thụy
Thụy phường liên tửu Trung Sơn thất
Giá tự Khai Nguyên tam bách tiền.
Xuân úng sạ khai phù lạc nghĩ
Thanh hinh dĩ niểu bán trì niên
Rượu sen làng Thụy ngon lừng tiếng,
Giá đáng Khai Nguyên mấy chuỗi tiền.
Vừa mở vò xuân, đà thấy kiến,
Ngát bay men dặm nửa hồ sen.
Bùi Hạnh Cẩn dịch.

Rượu Xích Bích
Rượu của Tô Thức tự chế khi ở bên ngọn núi La Phù.
Phạm nhân Binh bộ Thương thư Tô Thức trong Ô đài thi án với tội danh : Thơ châm biếm biến pháp của Vương An Thạch, bị biếm chức Đoàn huyện Phó sứ Hoàng Châu. Tô về với cửa cỏ lều tranh ở gò đất phía đông sườn núi (pha). Và đề trước cổng nhà: Đông Pha tuyết đường. Xưng Đông Pha cư sĩ.
Di Hậu Xích Bích phú, Tô Đông Pha viết:“ Tối, khách nói tôi cất được con cá miệng to, vảy nhỏ tựa con Lô ở Tùng Giang, tìm đâu được rượu đây? Tôi về hỏi vợ. Vương Nhuận Chi đáp: “Ngã hữu đấu tửu tàng chi cữu hĩ. Dĩ đãi tử bất thời chi nhu.”–Thiếp có đấu rượu cất đã lâu, phòng bất ưng dùng tới.
Nhà phê bình văn học Kim Thánh Thán (đời Thanh) viết trong sách tuồng Mái Tây, lời phê Tây Sương ký của Vương Thực Phủ (đời Nguyên): “ 10 năm chia tay bạn, chợt thấy bạn xuất hiện, mở cửa, nắm tay, rối rít… Vội chạy vào hỏi vợ: Mình liệu có đấu rượu của Tô Đông Pha không? Vợ tươi cười rút cành trâm vàng đang cài trên đầu trao cho. Thế là đủ 3 ngày cơm rượu… ” (= Rượu Xích Bích).
Tuy nhiên, còn gọi rượu La Phù. Nguyễn Trãi đã viết: Chén chăng lọ chuốc rượu La Phù.
Phan Bội Châu – Hương Giang thu phiếm:
Bè mê tân, không có, có không e nữa đắm thiên hạ đắm
Rượu Xích Bích tỉnh hay, hay tỉnh, đành chăng vui một mình vui !

S

Sao Bắc cực
Là ngôi sao sáng nhất hiện tên Polaris nằm ở cuối (chuôi) chòm Tiểu Hùng tinh (Ursae Minoris). Vì nó gần thiên cực nên gần như không chuyển động biểu kiến trên bầu trời.
Từ xưa các nhà Hàng hải dùng làm mốc xác định vĩ độ mình đang đứng. (Đường chân trời, nơi mình đứng với Polaris tạo thành góc bằng số đo vĩ độ).
Hiện sao Bắc cực có độ sáng biểu kiến là 1.97m. Do hiện tượng tuế sai trục quay trái đất chuyển động với chu kỳ 25800 năm, nên khoảng năm 3000 trCN, thì sao Thumba trong chòm sao Thiên Long là sáng nhất. Dự kiến, đến năm 14000, sao Vega trong chòm sao Thiên Cầm là sao sáng nhất nên sẽ được gọi là sao Bắc Cực.
Quan niệm xưa mỗi người cầm một sao. Bắc cực là ngôi sao tượng trưng vua. Vì thế Luận ngữ viết :“ Bắc thần cư kỳ sử, nhi chúng tinh củng chi ”- Sao Bắc cực ở yên chỗ mà các sao khác đều chầu về.
Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây Hồ, phú :
Nền hoàng thành đặt vững Long Biên, ngôi Bắc cực muôn phương đều củng hướng.
Nền bắc trạch xây kề Ngưu chử, cảnh Tây Hồ trăm thức lại phương phu.

Sao Bắc Đẩu
Nằm phía thiên cầu bắc. Trong ranh giới của chòm Đại Hùng tinh (Ursa Major). Còn gọi Thất tinh.
Bảy sao xếp thành cái đấu nên gọi sao Đẩu. Gồm Tham lang (Dubha), Cự môn (Merak), Lộc tồn (Phecda), Văn khúc (Megrez), Liêm trinh (Alioth), Vũ khúc (Mizar) và Phá quân (Alkaid).
Tùng Thiện vương (1819-1870) hiệu Thương Sơn – Nhất Trụ tự (Chùa Một Cột): Liên hoa xuất hàn thủy
.                             Pháp tọa vô trần ai
                               Dạ thâm Tinh Đẩu tĩnh,
                               Phần âm không tế lai !
Từ nước lạnh sen hoa bừng nở, Phật tĩnh tâm chẳng nợ trần ai.Đêm thâu Bắc Đẩu lắng dài, Tiếng Thiền thấu tận ra ngoài thinh không.

Sao Chổi
Là hành tinh, nhìn thấy như hình cái chổi.
Người Trung Hoa cho đó là điềm xấu, báo trước sự chết chóc của vua chúa. Người Hy Lạp và Ả Rập cho là sự tấn công của thiên đàng xuống trần gian và gọi sao băng, sao chổi (quét).Bằng chứng là sao chổi Halley gây ra vụ đại dịch hạch châu Âu bắt đầu từ Istambul (Constantinople) của đế chế Byzantine từ 541-542.
Các nhà khoa học cho rằng, sự xuất hiện sao chổi chỉ là một hiện tượng thiên nhiên đẹp mắt Tuy nhiên sao chổi Halley, nhiều khả năng mảnh của nó rơi xuống trái đất năm 530, thổi bùng cơn bão bụi vào khí quyển làm đột ngột sụt giảm nhiệt độ trái đất xuống 3oC vào năm 536-537, gây hạn hán, mất mùa, đói kém…
. Nó khác ý hiểu tận thế của nhóm cuồng giáo Cổng Thiên đường đã tự tử tập thể khi sao chổi Hale-Bopp xuất hiện năm 1997.
Thiên thể sao chổi hình quả bóng băng tuyết bẩn chứa CO2, Metal, bụi khoáng, H2O…có từ thuở hệ mặt trời hình thành. Phân bố ngẫu nhiên và bay quanh mặt trời với quỹ đạo elip rất dẹt. Thỉnh thoảng một vài ngôi va chạm nhiễu loạn quỹ đạo đưa một số mảnh vật chất bay vào trung tâm gần mặt trời. Bị nóng, bốc hơi dưới áp suất của gió mặt trời tạo nên các đuôi bụi, đuôi khí, ta nhìn giống cái chổi.
Những sao chổi ngắn sinh từ vòng đai Kuiper và sao chổi dài từ đám Oort theo cơ chế nhiễu loạn hấp dẫn. Kính viễn vọng quan sát được số sao chổi có chu kỳ lặp lại như Encke năm 1822.
Sao chổi Halley, người Hy Lạp thấy vào năm 466trCN. Có chu kỳ 76 năm. Thấy lại năm 1910 và năm 1986 (hình bên). Sẽ thấy vào giữa năm 2061..
Chế Lan Viên – Bình đựng lệ :
Dẫu không chu kỳ như Tua-rua, sao Chổi,
Chiếc bình tuột khỏi tay nhân loại, lại về trở lại nằm kia.
Cùng với hoa trúc đào đỏ chói.
Và sóng chiều vào bãi.
Thia lia.

Sao Hôm, sao Mai.
Sâm, Thương. Kim tinh. Venus.
1. Tả Truyện: Át Bá và Thực Trầm con vua Cao Tân Thị. Vì anh em hay cãi lộn, cha bảo không được nên đày Át Bá ra Thương Khâu chủ sao Thần hay sao Thương (sao Mai). Còn Thực Trầm đày ra Đại Hạ, chủ sao Sâm ( sao Cày, sao Hôm).
2. Khoa học nay, Kim Tinh (tức sao Hôm hay sao Mai) là sao Venus (Vệ Nữ), hành tinh gần Mặt Trời thứ nhì của Thái Dương hệ. Venus mọc lúc hoàng hôn (phía tây) gọi Sao Hôm nên ta thấy màu đỏ da cam. Khi Venus mọc lúc bình minh (phía đông) gọi Sao Mai nên mang màu đỏ lửa.
Nhà thơ Tế Hanh (1921-2009). Quê Quảng Ngãi – Vườn xưa:
.                           Như mặt Trăng mặt Trời cách trở,
                            Như sao Hôm, sao Mai không cùng ở,
                            Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Sao Khuê
1. Với Phương Tây, là một trong bảy chòm sao thuộc Bạch Hổ,
tượng trưng Kim – Ngũ hành và mùa Thu. Khoa học nay, Sao Khuê là tập hợp của 16 ngôi sao, trong đó 9 ngôi thuộc chòm Tiên Nữ (Andromedae) 7 ngôi thuộc chòm Song Ngư (Piscium).
2. Với người Hoa cổ: Sao Khuê là một trong nhị thập bát tú (chòm 28 sao, có 16 ngôi xếp khúc khuỷu như chữ Văn (x).
Hiếu kinh – phần Viện Thần Khế: Khuê chủ văn chương.
3. Văn hóa Việt Nam: Sao Khuê biểu hiện trí tuệ, học vấn. Vì thế vua Lê Thánh tông (1460-1497) đã dành cho Thi hào Nguyễn Trãi, viết trong thơ Minh Lương (Vua sáng tôi hiền):
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo. – Nguyễn Trãi lòng sáng ngời như sao Khuê buổi sớm. x. Khuê Văn các

Sao Tua-rua
Sao Taurus: Là cụm sao phân tán (Pleiades) M45 trong chòm Kim Ngưu (sao Thất Nữ, Seven sistrers). Còn gọi sao Mạ. Vì thấy sao vào sáng sớm tháng 6 dương lịch, tiết Mang Chủng thì  gieo mạ mùa.
Là sao Kim Ngưu : Người Chaldei đã tìm ra từ 5000 năm trước. Theo thần thoại Hy Lạp: Thần Zeus muốn cướp nàng Europe xinh đẹp, đã hóa thân thành trâu lẫn vào đàn trâu của cha nàng. Khi Europe choàng vòng hoa lên sừng trâu thì Trâu Zeus dông xuống sông đem nàng Europe đi. Vì vậy, ta chỉ thấy trên bầu trời hình đầu trâu ngoi trên mặt nước.
Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây hồ, phú:
                Chòm hủ thảo chưa qua tuần đom đóm (1),
.                Áng tường vân đà cách độ
Tua – rua.
______

1 Lễ ký-Thiên Nguyệt lệnh :“ Hủ thảo biến vi huỳnh.”Cỏ mục biến thành đom đóm. Về khoa học, Đom đóm (Lampyndae) là động vật có tập tính phát sáng. Đó là tín hiệu tình yêu trong mùa sinh sản. Phản ứng sinh hóa quang Biolumiescence (bước sóng 510-670nm), do chất enzym Luciferase hoạt động trên Luceferin với sự đóng góp của ion Magnesie, ATP và Oxy…Cỏ mục chỉ sinh mốc meo. Chất phát sáng là lân tinh.

Sư tử Hà Đông
Nam Sử: Đời Tống, đất Vĩnh Gia có người tên Tạo, họ Trần, tự Quý Thường rất mộ đạo Phật, đọc kinh suốt cả đêm ngày ở chùa Long Khâu, như để trốn vợ. Liễu thị vợ Tạo, phòng không lạnh lẽo chịu không nổi nhiều lần tức rống lên, đập tường, dựng giường. Tô Đông Pha là bạn, bèn làm thơ tặng:
Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,
Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ trương lạc thủ, tâm mang nhiên.
Ai hiền như thày chùa Long Khâu, đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu. Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống, quá sợ tay run dùi mất đâu.
Tô Đông Pha mượn tích Phật: (Tựa theo Truyền Đăng lục, của Đạo Nguyên soạn năm 1004 đời Càn Đức Tống Nhân tông, Nội dung nói về hành trạng cơ duyên… của 1701 vị từ Phật tổ đến đời 51 của Ngũ gia tông phả) :
Lúc Cakya Mouni ra đời một tay chỉ trời một tay chỉ đất. Tiếng nói vang lên như sư tử hống (gầm):“Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn.”- Trên trời dưới đất, một mình ta lớn (?)
Tô Đông Pha cũng mượn thơ của Đỗ Tử Mỹ: “Hà Đông nữ nhi thân tinh Liễu.” – Cô gái Hà Đông, họ Liễu, (chỉ vợ Thường).
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gửi người đằng la.

Sự tử như sự sinh
Khổng Phu tử:“ Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã.”- Thờ chết tưởng như thờ sống, thờ mất tưởng như thờ còn, ấy mới thật hết lòng hiếu thảo.
Nguyễn Gia Môn – Núi Hỗ trông mây:
Tấc thành lễ bạc bày ra,
Con xin sự tử như là sự sinh.

Sử Mã
Sử ký Tư Mã Thiên, 520 ngàn chữ, chép lại 3000 năm từ thời Viêm Hoàng đến Hán Vũ đế. Được xếp trong tiền tứ sử với Hán Thư của Ban Cố (32-92?). Tam Quốc chí của Trần Thọ (233-247), Hậu Hán thư của Phạm Việp (Diệp,398-455).
Tư Mã Thiên (145-86 trCN), tự Tử Trường, người Long Môn, huyện Hàn Thành, Thiểm Tây. Là học trò Đổng Trọng Thư và Khổng An Quốc. Họ Tư Mã có từ thời Chu 1122trCN. Ông tổ nối đời giữ chức Tư Mã quan võ đến đời Chu Tuyên vương (827-782 trCN) cho lấy làm họ. Cha là Thái sử Tư Mã Đàm, cháu 8 đời Tư Mã Thác quan võ đồng liêu với Trương Nghi giúp Tần Huệ vương đánh bại nước Thục..
Năm 99trCN, Hung Nô dồn 8 vạn binh hùng đánh Hán. Thiếu khanh Lý Lăng với 5 nghìn quân binh bị vây lâu. Lương kiệt, quân liệt, không được tiếp viện. Lăng muốn bảo toàn lực lượng đã tạm hàng nên Hán Vũ đế (141-87 trCN) đã giết mẹ Lý Lăng. Lang trung Thái sử lệnh Tư Mã Thiên một mình trước triều minh oan cho Lý Lăng. Vua cho như thế là coi thường sự yếu hèn của Lý Quảng Lợi anh vợ Hán Vũ đế. Không có tiền chuộc lỗi, ông chịu tội hủ hình (thiến dái) ngồi tù. Ra tù, nhận chức Trung thư lệnh dành cho hoạn quan nhưng nhục không thể mất. Ông dồn thời gian du ngoạn. Ghi chép chuyển hóa cái nhục thành sức mạnh tâm huyết với lời cha dặn viết tiếp nghề sử. Hoàn thành năm 91trCN, lúc ông 55 tuổi. 100 năm sau sách được công bố.
Điều này thành ngạn ngữ:“ Dục học Tử Trường chi văn, đương tiên học kỳ du.”- Muốn học văn của Tử Trường nên học sự đi chơi của ông ấy trước
Phù Dung tân truyện:
Mở mang sử Mã, kinh Lân,
Sâu nguồn Thù, Tứ, rộng sân Chu, Trình.

Sửa dép vườn dưa
Qua điền lý hạ
Quách Khiếu là chú Hoàng Thái hậu Đường Văn tông Lý Ngang (809-840) được bổ nhậm huyện lệnh Bân Ninh. Có tiếng xì xèo cho rằng, vì dâng hai con gái xinh cho Hoàng Thái hậu.
Đường Văn tông bèn hỏi Công bộ Thị lang Liễu Công Quyền.Quyền thưa: So công lao đối với quốc gia, bổ dụng Quách Khiếu như thế là hợp tình hợp lý. Nhưng có một câu chuyện như thế này: Có người đi qua gốc mận đầy quả chín, vô tình sửa mũ nên bị nghi hái trộm mận. Lại có người đi qua vườn dưa chín, vô tình cúi xuống sửa quai dép nên bị nghi luôn, trộm dưa. Những cử động như thế rất dễ bị nghi ngờ là vậy.
Về sau tích đưa vào nhạc phủ khúc Quân Tử hạnh:
Quân tử phòng vị nhiên,
Bất xử hiềm nghi oan.
Qua điền bất nạp lý,
Lý hạ bất chỉnh quan.
Thúc, tẩu bất thân thọ.
Trưởng, ấu bất tỉ kiên.
(=Qua điền lý hạ)- Ta cần phòng khi chưa xảy ra, không ở trong nghi kỵ. Qua ruộng dưa không nên sửa dép. Dưới gốc mận chẳng nên sửa mũ. Em trai chồng và chị dâu không thân cận. Già, trẻ không cùng sánh vai.
Truyện Quan Âm Thị Kính:
.                               Ngán thay sửa dép vườn dưa,
.                               Dẫu ngay cho mấy vẫn ngờ rằng gian.

T

Tạc bích
Đục vách. Xuyên bích dẫn quang.
Hán thư: Đời Tây Hán, chàng Khuông Hoành, tự Trĩ Khuê người Đông Hải, Đàm Thành, Sơn Đông. Nhà nghèo song ham học. Thấy nhà hàng xóm khá giả, luôn có ánh sáng, anh bèn lấy dao khoét vách (tạc bích) nhà mình nhờ ánh sáng nhà bên dọi sang để học. Học hết sách, anh đi làm không công chỉ để được mượn sách đọc. Sau này trở thành một học giả.
Nguyễn Công Trứ – Hàn Nho phong vị, phú:
…Tiếc tài cả phải phạn ngưu, bản trúc, dấu xưa ông Phó, ông Hề;
Cần nghiệp nho khi tạc bích, tụ huỳnh, thuở trước chàng Khuông, chàng Vũ.

Tam bất hiếu
Mạnh Tử:“ Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.”- Bất hiếu có ba điều, không chịu có con là điều bất hiếu lớn nhất.
Minh đạo gia huấn của Trình Hạo (1032-1085) ghi chú ba điều bất hiếu: 1. Cha mẹ mang nhục vì con làm bậy. 2. Không nuôi cha mẹ khi già yếu. 3. Không lấy vợ, chịu tuyệt tự.
Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên:
.                                  Hữu tam bất hiếu đã đành,
                              Tiểu đồng trước đã vì mình thác oan..

Tam dương khai thái
Thuyết Âm cực-Dương hồi: Tháng 10 lục âm, cực thịnh nên đến tháng Một (11) thì dương hồi, gọi nhất dương. Tháng Chạp (12) là nhị dương. Tháng Giêng là tam dương.
Kinh Dịch: Hình quẻ kép (trùng quái) ứng với 12 tháng. Hình quẻ ghi vạch, mỗi vạch gọi là hào. Vạch dài là hào dương. Vạch đứt là hào âm. Quẻ tháng Giêng ghi: , có ba hào dương (tam dương), mở đầu vận thái thuộc mùa Xuân.
Nguyễn Công Trứ – Câu đối tết:
.                       Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái,
                         Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.

Tam đa
Phúc, Thọ, Lộc.
Theo Trang Tử: Lời của quan trấn biên chúc vua Nghiêu khi sang thăm đất Hoa Phong:“ Ôi! Thánh nhân. Xin chúc Thánh nhân Phúc, Thọ, Lộc!” – Nhiều con trai, sống lâu và giàu có. Thành điển lời chúc Hoa Phong.
Đời sau, thể hiện lời chúc bằng hình vẽ trên giấy tam nhân phúc-thọ-lộc. Rồi tới vài nghìn năm sau người Tàu (?) gán cho ba người đại diện hình hài, tượng trưng Phúc, có đứa trẻ nắm vạt áo hay con cháu ngũ đại đồng đường là Quách Tử Nghi (697-781) tướng đời Đường, được coi là công trùm trời đất mà chúa không nghi, đức vượt muôn người mà không đố kỵ.
Tượng trưng Thọ, tay cầm quả đào tiên hay bên cạnh con hạc, là Đông Phương Sóc ( ?-93 trCN) người nhỏ, tóc bạc, lưng còng, quân sư của Hán Vũ đế. Ông là một học giả kì trí đa mưu, u mặc. Sống 125 tuổi.
Tương trưng Lộc (còn gọi thần tài) là Đậu Từ Quân, bụng to, bệ vệ. Ông làm quan đời Tấn. Là người linh lợi, khéo xoay xở, giàu có. Tuy nhiên hơn 80 tuổi không có đích tôn.
Câu đối :
.            Cáo bí ngũ hoa đường liên tứ đại
.            Thương xưng cửu nguyệt phúc diễn tam đa..
Rực rỡ năm màu nhà liền tứ đại
Rượu mừng tháng chín phúc đủ tam đa.
.                                       Trần Lê Sáng dịch.

Tam Hoàng
Theo Vận Đầu Xu, Thượng thư đại truyện và Bạch hổ thương nghĩa: Tiếp cổ tích Bàn Cổ là Tam Hoàng, đứng đầu các bộ lạc lớn.
Phục Hy (Bào Hy, Thái Hạo) khoảng 2852trCN. Dạy đan lưới đánh cá, nuôi gia súc.
Kinh Dịch – thiên Hạ: Xưa, họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngửng lên xem hình tượng trên trời, cúi xuống xem phép tắc dưới đất. Xem các văn vẻ của chim muông cùng thích nghi của trời đất… làm ra bát quái.
Thần Nông (Địa Hoàng), họ Khương còn gọi là Viêm đế thay vua Phục Hy, khoảng 2737trCN. Dạy trồng cây, cấy lúa. Chế công cụ. Nếm 100 loại cây cỏ để chọn ra thuốc trị bệnh.
Toại Nhân (Nhân Hoàng) khoảng 2550trCN: Dạy săn bắn, bắt cá. Phát minh ra lửa, nướng chín thức ăn.
x. Ngũ đế.

Tầm thường
Là đơn vị đo độ dài của Trung Hoa cổ. 1 thường = 2 tầm =16 thước.
Tả Truyện: “Chư hầu tham mạo, sâm dục bất kỵ, tranh tầm thường dĩ tận kỹ dân ” – Bọn chư hầu tham lam chiếm đất, chẳng kiêng nể, tranh từng tí nhỏ nhen đến nỗi người dân không còn gì.
Nghĩa của tầm thường mở rộng và thay đổi như. Tầm vóc. Vừa tầm. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân. Hoặc loại tầm thường.
           Nhà thơ Đàm Chu Văn (Đàm Văn Nhiệm) sinh 1958  tại Thái Binh. – Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở Ủy ban nhân dân:
Ta phải nghe những mặn nhạt cuộc đời bên ký ức xưa bầu bạn
Nơi quản lý và sản sinh những buồn vui số phận…
những thánh nhân bên cạnh những
tầm thường.

Từ bi hỉ xả
Là triết lý đặc trưng đạo Phật, gọi tứ vô lượng tâm. Bốn đức tính nền tảng trong con người, đó là sự cho vô hạn.
Từ là lòng nhân ái, tình thương. Bi là buồn, là khổ vì cái buồn cái khổ của người khác. Hỉ là niềm vui do cái vui của người. Xả là bỏ, là biết tha thứ cho tất cả chúng sinh.
Nhân tông Trần Khâm (1258-1308) – Cư trần lạc đạo phú:
Săn hỉ , xả, nhuyễn từ, bi ,
Nội tự tại kinh lòng hằng đọc.

Tứ dân
Tề Hoàn công (685-643 trCN) hỏi Tể tướng Quản Di Ngô:
– Làm thế nào để dân yên?
– Sĩ, nông, công, thương, tứ dân ấy – Di Ngô trả lời – Nên nghĩ cách mở mang khiến cho tứ dân giữ được nghề nghiệp.
Nguyễn Thượng Hiền – Hợp quần doanh sinh thuyết:
Tứ dân ai cũng lạc loài,
Đã hay cái kiếp con người đời nay!

Tứ đổ tường
Chiến Quốc sách – Phần Ngụy (II): Vua Lỗ Cung công, nhân lúc vui cạn chén, nói với Huệ Thành vương Ngụy Anh (370-319 trCN): Xưa Nghi Địch dâng vua Vũ rượu ngon. Thấy ngon, vua Vũ nói:“Đời sau tất có kẻ vì rượu mà mất nước”. Vua Tề Hoàn công, sau món ăn đêm của Dịch Nha, say quá sáng. Tỉnh dậy, nói:“Đời sau tất có kẻ vì miếng ngon mà mất nước”. Tấn Văn công Trùng Nhĩ, được nàng Nam Chi Uy, ba ngày bãi triều, bảo:“ Đời sau tất có kẻ vì sắc đẹp mà mất nước”. Vua Sở lên Cường Đài ngắm Liệp Sơn, trước cảnh tráng lệ, vui quên về. Bốn cái đó đã đủ để mất nước. Nay chúa quân có đủ bốn thứ như thế, chẳng nên răn mình ư?
Cổ thi:
Tửu, sắc, khí, tài tứ đổ tường,
Đa thiểu hiền ngu tại nội rương.
Nhược hữu thế nhân khiêu đắc xuất,
Tiện thị thần tiên bất tử phương.
Bốn bức tường: rượu gái bạc ngông, Khôn dại, ít nhiều nhốt ở trong. Đời người ai nhảy mà ra được, Là phép thiên thần thoát tử vong.

Tứ hải giai huynh đệ
Luận Ngữ – Nhan Uyên: Tư Mã Ngưu hỏi thày Khổng Tử:
– Làm thế nào mới thành người quân tử?
Khổng Tử trả lời:
– Quân tử không buồn phiền và không lo sợ.
Tư chưa rõ, hỏi lại. Khổng Tử giải thích thêm:
– Quân tử có thể thường xuyên phản tỉnh mình nên lòng không chút áy náy, còn gì là lo lắng hoảng sợ.
Ít lâu sau Tư Mã Ngưu ngộ ra lời thầy, nên than với Tử Hạ:
– Người ta đều có anh em vui vẻ cả. Tôi chỉ có một mình buồn làm sao.
– Người quân tử chăm chỉ, cẩn thận với việc làm, chớ để mắc sai lầm – Tử Hạ nói – “Quân tử kính nhi vô thất dữ nhân cung nhi hữu lễ, tứ hải chi nội giai huynh đệ.”- Người kính, không để mất đối xử với ai khiêm cung cho hợp lễ, trong bốn biển đều là anh em.
Nhà văn Phạm Tường Hạnh – Đất Sài Gòn :
Ờ chú Tư…Ta nói chuyện với nhau chút được không?
– Có chuyện gì không anh?- Tôi gặng lại.
– Có chớ chú Tư, anh em mình đàm đạo với nhau chút…Tứ hải giai huynh đệ mà chú Tư.

Tứ hỷ
Bốn điều vui.
Sách Thông tục biên: Xưa có bốn câu thơ được lưu truyền:
Cửu hạn phùng cam vũ,
Tha hương ngộ cố tri,
Động phòng hoa chúc dạ,
Kim bảng quải danh thì.
Nắng hạn mưa rào đổ, Xa quê gặp bạn thân, Lần đầu vào với vợ, Bảng vàng treo, ghi tên.
Truyện Lưu nữ tướng:
.                              Ngâm thơ tứ hỷ ngại ngùng,
.                     Nghĩ câu kim bảng động phòng tối nan.

Tứ thư
Gồm sách Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử và Luận Ngữ.
1. Sách Đại Học: Dạy phép làm người để thành bậc quân tử. Do Tăng Sâm dựa theo lời Khổng Tử soạn ra 10 chương gồm:
Minh đức: tu rèn đạo đức cho trong sạch.
Tân dân: Dạy dân cải tạo mình để cải tiến xã hội.
Chí thiện: Giáo hóa con người hiểu rõ Minh đức, Tân dân.
2. Sách Trung Dung: do Tử Tư tên Khổng Cấp, cháu Khổng Tử, học trò Tăng Tử chép. Dạy cách sống dung hòa. “ Trung hòa là tính tự nhiên trời đất. Trung dung là đức hạnh con người. Trung là giữa không lệch về bên nào. Dung là thường. Mọi việc trên đời không có gì tuyệt đối, ngay cả lẽ phải. Mọi xử sự phải theo nhân tình thế thái. Cố chấp đó là sự bất cập”. Sau này được Trình Di (1933-1107) đời Tống chỉnh lý, bổ sung .
3. Sách Mạnh Tử: Mạnh Tử hay Mạnh Kha (372-289 trCN). Á thánh (sau Khổng Tử). Ông là học trò của Tử Tư .
Sách 10 thiên. Là những lời bàn luận, đối đáp của Mạnh Tử với các vua chúa, chư hầu… Phản ảnh tư tưởng và lý luận Nhân trị của Mạnh Tử. Với Mạnh, nguồn gốc đạo đức là Nhân chi sơ, tính bản thiện. Đức trị là hợp với quy luật sinh tồn. “Thiên sinh chi vị tính, suất tính chi vi đạo, tu đạo chi vi giáo”. Cái trời sinh ra gọi là Tính, noi theo tính ấy gọi là Đạo. Sửa mình theo đạo gọi là Giáo, hiện: thân là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.
Mạnh tử đề cao thuyết Nhân Chính. “Hữu quân thần nhiên hậu hữu thượng hạ”. Có vua tôi rồi mới có trên dưới. Vua phải thực sự là người “Lo cái lo của dân, vui cái vui của dân”. Khuyến khích lao động nâng cao đời sống để từ tuổi 50 có áo lông để mặc. Già có thịt ăn. Chỉ có vua nào loại bỏ được chiến tranh, lấy đức trị thì mới nắm được sứ mệnh thiên hạ.
4. Sách Luận Ngữ: Ghi lời bàn luận của Khổng Tử với học trò. Nội dung như một khuôn mẫu về đời về đạo.
Sách do Tăng Tử và Hữu Tử học trò của Khổng Tử soạn.
Tăng Tử, tức Tăng Sâm (505-435 trCN), hiệu Tử Dư, con Tăng Điểm. Quê thành Nam Vũ nước Lỗ (Gia Tường, Sơn Đông). Ông từ chối mọi quan nha bổng lộc. Vui sống thanh đạm.
.   La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804). Người Mật Thôn, Đức Thọ, Hà Tĩnh – Tấu gửi vua Quang Trung:
Tuần tự tiến lên học đến Tứ thư, Ngũ kinh, chư sử…. Đó mới thực là cái đạo ngày nay.

Tứ tuần
Cứ mỗi 10 năm gọi một tuần. Người xưa chúc thọ ở tuổi 80 (bát tuần). Người 60 tuổi gọi là đáo tuế (lặp lại một kỷ của can-chi). Nhà giàu 50 tuổi lễ ngũ tuần. Vua 40 tuổi lễ tứ tuần.
.    Ngô Đức Kế (1878-1929). Người làng Trảo Nha, thị trấn Nghèn, Hà Tĩnh – Hỏi Gia Long (nhân Khải Định 40 tuổi):
.                                   Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ,
.                             Trăm gia ba chục khổ nhà nông…

Tứ Tượng
1. Kinh Dịch: Người xưa dùng vạch liền (-) ghi tượng trưng khí Dương và vạch đứt (–) cho khí Âm. Hai vạch đó gọi là Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa thành hai vạch gọi là Tứ Tượng. Mỗi Tượng thêm 1 vạch nữa thành 8 cái ba vạch gọi 8 quẻ đơn.
Tứ Tượng gồm: Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.
Có 4 phạm trù biến đổi của Vũ trụ: Vô Cực sinh Thái Cực. Thái Cực (sự sống) sinh Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi (cực Âm-Dương) sinh Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh Bát Quái. Bát Quái sinh Vô Lượng.

Trong Lão Tử, Vô Cực chính là Vô Vi. Phật giáo là Không.
2. Chu Dịch Chiết trung -Thiệu Ung (1011-1077): Vạn sự vạn vật đều từ tâm sinh ra. Tâm là thái cực là nguồn gốc sản sinh ra vạn sự vạn vật…Tứ Tượng là Âm, Dương, Cương, Nhu. Có Âm Dương mới sinh ra trời. Có cương, nhu, rồi mới có thể sinh đất.
Thư giãn:
Thầy đồ thấy học trò con chủ nhà cầm cái bánh đa mật rất ngon mà mẹ nó vừa mua về. Thày bảo: “Đem lại đây thầy tập nghĩa cho nghe”. Thầy liền cầm bánh để ngay ngắn lên bàn: “Ngôi Thái cực là như vầy”. Rồi thầy bẻ bánh làm đôi:“ Thế này là Thái cực sinh Lưỡng Nghi”. Xong thầy lại bẻ làm bốn:“ Thế này là Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”. Thầy bỏ bánh vào mồm vừa nhai vừa nói: “Tứ Tượng biến hóa như vầy!”

Tự lực Văn đoàn
Là Văn đoàn hoàn toàn tự lực. Thành lập năm 1933.
Gồm các văn nghệ sĩ: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) lãnh đạo và Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), Trần Tiêu.
Với khoảng 10 tôn chỉ mục đích “ Tự lực, sáng tác, bình dân, giản dị, lúc nào cũng mới trẻ, yêu đất nước, trọng tự do, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ….”
Cơ quan ngôn luận là báo Phong Hóa và Ngày Nay.
Hoạt động Tự Lực Văn đoàn như một hội Nhà Văn. Có các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, hội đồng xét và trao giải.
Các tác phẩm tiêu biểu của Tự lực Văn đoàn: Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Đời mưa gió, Gánh hàng hoa, Sợi tóc, Anh phải sống, Dưới bóng Hoàng Lan…
Các tác phẩm đã được Tự lực Văn đoàn trao giải:
– Tiểu thuyết: Bỉ vỏ của Nguyên Hồng. Làm lẽ của Mạnh Phú Tư. Cái nhà gạch của Kim Hà.
– Thơ: Ngẹn ngào (Tế Hanh). Bức tranh quê (Anh Thơ).
– Kịch: Kim tiền của Vi Huyền Đắc.
.     Nhà văn Nguyễn Khải – Thượng Đế thì cười (chương 24):
… “Điêu Tàn” gây chấn động trong làng thơ thuở ấy. Ông Nguyên Hồng cũng khoảng tuổi ấy đã có “Bỉ Vỏ” được giải thưởng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Tự phê bình
Phản cầu chư kỷ. Tự tìm khuyết điểm của mình mà sửa.
Thời nhà Hạ, vua Vũ sai con trai là Bá Khải đi dẹp loạn chư hầu Hữu Hổ. Bá Khải bị thua. Thuộc hạ của ông rất tức nên xui Bá Khải đánh tiếp. Bá Khải nói rằng, mình thua vì mình có điểm còn yếu. Vậy phải phản cầu chư kỷ. Tự tìm ra cái khuyết điểm của mình mà sửa chữa, rèn luyện thêm mới chiến thắng được.
Bá Khải cho luyện binh võ đêm ngày. Hữu Hổ thấy rõ Bá Khải khắc phục điểm yếu để mạnh nên đã tự quy hàng mà không dám làm loạn nữa.
.     Bác Hồ – Tự phê bình và phê bình:
.      Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc. Do đó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm…Để điều trị các thứ bệnh ấy không có thuốc đặc hiệu nào hơn là tự phê bình và phê bình.

Tương đồng
Kinh Dịch:“ Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.
(=Tương đồng) – Cùng tiếng thì ứng nhau, cùng loại thì tìm nhau.
Nhà thơ Phương Quang – Sông Hồng:
Sáng trong gam màu Tổ Quốc
Chứa chan phù sa sông Hồng.
Em ơi tình yêu ta giữ,
Có chung âm sắc tương đồng!

Tường đông
Mạnh Tử :“ Du đông gia tường nhi lâu kỳ xử tử.”- Trèo tường nhà phía đông để dụ dỗ con gái họ.
Tống Ngọc – Mỹ nhân phú:
“ …Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc.
Sở quốc chi lệ giả, mạc nhược thần lý.
Thần lý chi mỹ giả mạc nhược thần đông gia chi tử.
Nhiên thử nữ đăng tường, khuy thần tam niên, chí kim vị hứa giã.”-
Người đẹp ở đời không đâu đẹp bằng người nước Sở. Người đẹp nước Sở không ai bằng người làng ta. Người đẹp trong làng, không ai đẹp bằng người con gái nhà phía đông. Nhưng người đó trèo tường ngó trộm ta ba năm mà ta vẫn chưa ưng.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
.                                Êm đềm trướng phủ màn che,
.                         Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

U

Uốn ba tấc lưỡi
Dĩ tam thốn thiệt
Hán thư, Lưu hầu truyện: Trương Lương giúp Lưu Bang diệt Tần, chính là trả thù cho nước Hàn, tổ quốc của anh. Công thành thân thoái. Biết rõ Lưu, kẻ ganh ghét hạ thần nên anh thác lời mộ đạo tu tiên, nói lý do theo làm quân sư để nghỉ: “ Kim dĩ tam thốn thiệt vị đế giả sư….”- Nay chỉ uốn ba tấc lưỡi mà làm thầy bậc đế vương. Được phong vạn hộ ở ngôi chư hầu, kẻ áo vải  được thế là tột bậc. Nay chỉ thích ngao du cùng Xích Tùng tử mà thôi .
Trương về quê Cốc Thành ở  ẩn.
Phan Bội Châu – Văn điếu Phan Chu Trinh (năm 1926):
Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê.
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói.

Uốn lưỡi bảy lần
Tục ngữ Pháp: Tournez la langue sept fois avant de parler.-
Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.
Nhà thơ Trúc Thanh Ngô Gia Chi – Bài báo chẳng đăng (tháng 3-1988):
.                          Nhớ câu tục ngữ ngày xưa nhé,
                           Uốn lưỡi bảy lần hãy nói năng.

Uy vũ không sờn
Mạnh Tử – Đằng Văn công (hạ): Thời Chiến Quốc, Tần là nước mạnh. Tướng quốc là Công Tôn Hàn và Trương Nghi đi các nước dụ thuyết liên hoành để phá hợp tung các nước nhỏ.
Vì sợ Tần, vương thần các nước hỏi Mạnh Tử:
– Trương Nghi và Công Tôn Hàn có phải là đại trượng phu không ?
Mạnh Tử giải thích:
– …Đắc chí, dữ dân tri chi. Bất đắc chí độc hành. Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vi đại trượng phu.”– Khi đắc chí thì cùng với dân giữ đạo. Không đắc chí thì hành đạo một mình. Giàu sang không thể đổi lòng. Nghèo đói không thể hạ mình. Uy vũ không thể khuất phục. Đó mới là bậc đại trượng phu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Thư gửi vĩnh biệt cụ Huỳnh Thúc Kháng (tháng 4-1947) :
Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm siêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, Uy vũ không làm sờn gan.

Úy tứ tri
Đời Hậu Hán, cậu bé Dương Bảo bắt được con chim sẻ vàng bị con bồ cắt (quạ) cắn què chân. Nuôi chim cho khỏe rồi thả ra. Sau được trả ơn bằng bốn chiếc vòng trắng. (Trong truyện Ngậm vành báo cho biết sẽ được tứ thế tam công.)
Con ông là Dương Chấn, quê Quan Tây, Thứ sử huyện Kinh Châu tiến cử Vương Mật làm Lệnh doãn huyện Xương Ấp.
Một lần vào đêm, Mật đem 10 cân vàng tạ ơn Dương Chấn. Dương nói:
– Ta biết tài ông. Nhưng trách ông không biết lòng ta.
– Dạ thưa, đêm hôm nào ai biết? – Mật nói.
Chấn thẳng thắn :
Thiên tri. Thần tri. Ngô tri. Tử tri. Hà vị vô tri?”- Sáng trời soi. Tối thần soi. Trong ta biết. Ngoài ông hay. Sao bảo không ai biết?
Con Chấn là Dương Bình. Con Bình là Dương Tứ. Con Tứ là Dương Bưu. Bốn đời làm quan tam công, đến chức Tư đồ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngụ hứng:
Thư sinh tự tiếu đàm tam lược,
Am thất thủy năng úy tứ tri
Thư sinh lạm chuyện lược thao,
Tứ tri lo sợ đời nào mấy ai?
Nguyễn Văn Bách dịch.

 Uyên lộ
Uyên hàng lộ tự.
Uyên: chim uyên. Lộ: chim cò.
Ở các triều quân chủ, quan khanh xếp thứ bậc chầu vua. Đứng xếp theo từng ban, từng hàng cũng giống như đàn chim khi bay.
Theo Cầm kinh, lời chú giải, loài chim cò khi bay theo một thứ tự nhất định, con lớn trước, con bé sau, không bao giờ vượt nhau. Gọi uyên hàng lộ tự. (= uyên lộ).
Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây Hồ, phú:
Trên dưới đều rồng mây cá nước phải duyên, giọt vũ lộ tưới đôi hàng uyên lộ.
Gần xa cũng bờ cõi non sông một mối, tấm đan thành dung khắp lũ nghiêu xô.

V

Vạ lây thành cháy
Thành hỏa, trì ngư.
Truyện dân gian: Một hôm thành bị hỏa hoạn lửa cháy ngút trời. Người người xô lại dùng mọi phương tiện múc nước hồ lên dập tắt lửa. Lửa vừa tắt thì hồ nước cạn. Cá bị vạ lây, người ta bắt luôn cá.
Khảo dị:
1. Bách Gia thi Trung Quốc:“ Thành trung thất hỏa, họa cập trì ngư.”- Lửa cháy trong thành, tai họa ao cá.
2. Hịch Lương văn của Đỗ Bật (thời Bắc Tề): Sở quốc vong viên, họa diên lâm mộc. Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư. – Nước Sở mất vượn, họa đến cây rừng. Cửa thành bị cháy, vạ cả cá ao.
Hồ Chí Minh – Dương Đào bệnh trọng:
.                     Thành hỏa trì ngư kham hạo thán,
                      Nhi kim nhĩ hựu khải thành lao.
                      Vạ lây thành cháy, buồn khôn tả,
.                     Nay nỗi thương anh mắc chứng lao


Vì lợi ích mười năm trồng cây

Sách Quản Tử:
                            Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
.                          Thập niên chi kế mạc như thụ mộc.
.                          Chung thân chi kế mạc như thụ nhân.
.                          Nhất thụ nhất hoạch giả cốc dã,
.                          Nhất thụ thập hoạch giả, mộc dã,
.                          Nhât thụ bách hoạch giả, nhân dã
.
Kế một năm chi bằng trồng lúa. Kế 10 năm chi bằng trồng cây. Kế trọn đời chi bằng trồng người. Trồng một gặt một ấy là lúa. Trồng 1 gặt 10 ấy là cây. Trồng một gặt trăm ấy là người.
Quản tử tức Quản Trọng (725-645 trCN), tự Di Ngô. Quê Dĩnh Thượng (Sơn Đông) nước Tề. Ông được người bạn cao quý Bão Thúc Nha tiến cử với Tề Hoàn công. Thành Tể tướng, Quản tử đưa nước Tề thành quốc gia hùng mạnh. x. Đãi sĩ chiêu hiền.
Bác Hồ nói:
                  Vì lợi ích mười năm:  trồng cây.
.                   Vì lợi ích trăm năm:  trồng người.

Vu Lan bồn
Tiếng Phạn (Sanskrit): Ulabana. Giải tai nạn.
Thuyết nhà Phật: Mục Kiện Liên, một trong Thập đại Đệ tử của Phật Thích Ca. Một hôm xuống âm phủ thấy mẹ mình bị nạn treo chân dốc đầu xuống, không ăn uống được. Phật dạy: Muốn cứu được nạn thì đến Rằm tháng 7 lập hội Vu Lan bồn vừa tụng kinh vưà bố thí. Mục Kiện Liên tổ chức lễ Vu Lan xin cho mẹ thoát khỏi cực hình… Từ đó, Phật giáo chọn tết Trung Nguyên (Rằm tháng 7) là ngày lễ giải nạn Vu Lan (Ulabana).
Diêm vương cũng cho các âm hồn được lên trần hưởng lộc. Nên miền Bắc có tục lệ ngày này làm lễ Chúng Sinh.
Nhà thơ Diệp Hồng Phương, sinh 1955 tại Trà Vinh – Vu Lan, con kết bông hoa đỏ:
Một đóa Hồng trong rằm tháng Bảy,
Vu Lan bồn, lòng cũng lâng lâng!

Vu quy
Kinh Thi:“ Đào chi yêu yêu, cước cước kỳ hoa, Chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia” – Đào tơ rực rỡ lá hoa, cô về hòa thuận cửa nhà chồng con.
Nhà thơ Kim Quyên (Huỳnh Kim Hường), sinh 1953. Quê Cái Bè, Tiền Giang – Một sớm mai hồng:
Giọt nước mắt nào chảy ngược vào trong,
Mừng con gái buổi vu quy xuất giá.

Vũ khúc nghê thường
1. Theo Đường thư: Là tên điệu hát từ khúc Bà-la-môn từ Tây Lương. Tiết độ sứ Hà Tây là Dương Kính Thuật dâng Đường Minh hoàng (712-756). Ông cho nhuận sắc lời ca, thành tên Vũ y khúc nghê thường dạy cho cung nữ ở Lê Viên múa hát.
2. Theo Đường Dật sử: Một đêm Trung Thu, La Công Viễn dùng bí thuật để Minh hoàng Lý Long Cơ mơ lên cung trăng chơi. Thấy các tiên nữ mặc xiêm (thường) ngũ sắc hoa văn rồng mây (nghê). Nhớ lại, ông cũng cho các cung nữ mặc áo ngũ sắc màu ráng trời như thế, hát Nghê thường vũ y trong cuộc vui.
Phạm Thái – Chiến “ Tụng Tây Hồ” phú:
Khi tứ yến bày bàn loan quấn phượng, vũ khúc nghê gió thổi lên cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu.

Vũ trụ
Vũ: mái nhà. Bốn phương, trên, dưới. Trụ: cột. Xưa và nay.
Khoa học giải thích sự hình thành vũ trụ từ vụ nổ Bigbang. Trái đất tạo nên từ những hạt bụi sản phẩm đó.
Nhà thơ Hoài Hương, sinh 1964. Quê Cần Thơ – Vũ trụ và em:
Thổ tinh ấm áp thân quen,
Em dòng mật ngọt ru quên tháng ngày.
Yêu em anh ước mộng say,
Lại e vũ trụ vần xoay khó chiều.

Vua
Trung Hoa cổ, người cầm đầu bộ lạc gọi là hậu. Liên minh các bộ lạc lại, có thể thành quốc gia (2697trCN) người cầm đầu gọi là Nguyên hậu như Nghiêu, Thuấn.
Đến thời nhà Chu (1122trCN) chính thức xưng vương. Vua các nước chư hầu chỉ xưng tước như: công hoặc hầu.
Tần Thủy hoàng thống nhất Trung nguyên xưng Hoàng đế.
Tuy nhiên các nước, người đứng đầu vẫn xưng vương, vua.
Nhà thơ Trương Nam Hương – Lời con:
Tối om xộc xệch bố về,
Ngỡ ông say rượu giữa khuya lạc nhà,
Hét hò cơm nước bưng ra,
Bố như vua ấy, mẹ là… thần dân!

Vui sau, lo trước
Theo Vương triều danh thần ngôn hành lục:
Phạm Trọng Yêm (989-1052) tự Hy Văn người huyện Ngô, Giang Tô. Mồ côi cha khi còn quấn tã. Lớn, ngày một nồi cháo loãng chia làm tám cho bốn bữa ăn. Tiến sĩ năm 1015. Nhâm chức Tham tri chính sự. Ông cùng Hàn Kỳ và Phú Bật thực hiện Khánh Lịch tân chính. Ông thẳng thắn gạch bút bỏ những kẻ bất tài đương chức. Phú Bật nói, ông làm vậy cả nhà họ phải phát khóc. Phạm nói, Thà một nhà khóc còn hơn tai họa muôn nhà, vạn nhà phải khóc.
Vì thế Phạm Trọng Yêm bị biếm đến Thiểm Tây.
Một lần Thuần Nhân con trai ông chở 500 thùng thóc, lương ông dành dụm từ phủ Khai Phong về quê. Tới Đan Dương, gặp Thạch Man Khanh, bạn ông đang kỳ quẫn bách, Thuần cho cả thuyền. Nhân kể lại, ông khen: Như thế mới đáng là con ta!
Năm 1044, Đằng Tử Kính, Tri châu Nhạc Châu cho dựng lại Nhạc Dương lâu, Hồ Bắc (Lỗ Túc dựng năm 215). Đằng nhờ Phạm viết đề Nhạc Dương lâu ký:“…Bất di vật hi, bất di kỳ bi, cư miếu đường chi cao tắc ưu kỳ dân. Xứ giang hồ chi viễn tắc ưu kỳ quân. Thị tiến diệc ưu, thoái diệc ưu, nhiên tắc hà thì nhi lạc gia? Kỳ tất viết: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dư !”-
Không vui vì cảnh, không buồn vì cảnh, ở miếu đường trên cao tất lo cho dân. Ở sông nước ngoài xa tất lo cho vua. Dù tiến cũng lo, lui cũng lo. Vậy thì vui được khi nào? Tất nói: Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ vậy !
Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngụ hứng :
Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ.
Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu.
Muốn biết vui ta đâu đó tá?
Vui sau lo trước đặng thong dong.
Nguyễn Văn Bách dịch.

Vuông tấc
Phương thốn địa: vuông tấc đất. Lương tâm.
Cổ thi: Như hà thị trị sinh? Đản tồn phương thốn địa, lưu giữ tử tôn canh! – Thế nào là cách sống ở đời? Là giữ cái vuông tấc đất (tâm địa) của mình mới là để cho con cháu sinh nhai…
Phan Huy Ích (1751-1882) hiệu Dụ Am. Quê gốc làng Thu Hoạch, Hà Tĩnh. Nguyên quán Quốc Oai, Sơn Tây– Mùa đông Kỷ Mùi, nghĩ thay vua bài văn quốc âm tế điện Vũ hoàng hậu:
Ấy tấc vuông hằng chăm một tín thành
Ắt mảy chút cũng thấu lên tinh sảng.

Vườn Kỳ
Theo kinh Phật: Tu-Đạt-đa còn gọi Cấp cô độc nước Xá-Vệ mua vườn của Thái tử Kỳ Đà để làm tịnh xá thờ Phật.
Kỳ Đà nói đùa đem vàng lát hết vườn thì bán. Cấp làm như lời. Vì cây cối không bọc vàng nên vẫn thuộc Kỳ Đà. Vườn gọi Kỳ thị Cấp cô độc viên hay Vườn Kỳ.
Nguyễn Gia Môn – Tiền đường rộng mở:
.                                             Lân la ngày hạc Phật tiền,
.                                        Vườn Kỳ cây Cấp nảy lên từ rầy.

X    .

Xa thư
Xe và sách.
Từ đời nhà Chu thịnh trị, quy định thống nhất cỡ xe và chữ viết.
Sách Trung Dung:“ Kim thiên hạ xa đồng quỹ, thư đồng văn, hành đồng luân.”- Ngày nay người người đi xe cùng cỡ trục bánh xe, sách cùng thứ văn tự. Đi cùng theo một lối.
Quĩ: khoảng cách giữa hai trục bánh xe
Nguyễn Trãi – Hạ Tiệp:
.                             Tòng kim tứ hải xa thư nhất,
.                             Thịnh đức phong công vạn cổ tiền.
Từ nay khắp nơi cùng một mối, đức lớn công to hơn hẳn ngày xưa.

Xá lị
Tiếng Phạn: Sarira. Chân thần. Tro hỏa táng.
Phật tịch, sau hỏa táng, xá lị chia ba loại: Bạch xá lị: tro của cốt. Hắc xá lị: tro của tóc. Xích xá lị tro của máu thịt.
Xá lị đức Phật Thích-ca Mâu-ni chia thành tám. Sau chia ra 84 ngàn phần thờ ở khắp tháp Ấn Độ và ở một số nước.
Phạm Thái (1777-1813) – Chiến “ Tụng Tây Hồ” phú:
Tòa thạch tháp đã tan bình xá lị,
Đống thổ đôi dà nát dấu chôn bùa.

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ vạn kim âu.
.     Kim âu là cái chén (bát) vàng.
.     Xã: nơi để tế thần Đất. Tắc: nơi để tế thần Nông.
Thời của nhà nông, từ vua đến dân lập đền thờ thần Đất và thần Lúa. Vua tế Nam Giao còn dân (hay nước chư hầu) lễ xã tắc. Vì thế xã tắc là biểu tượng quốc gia. Nên mỗi khi đi đánh thắng nước nào thì phá biểu tượng xã tắc nước ấy.
Kết thúc trận cọc Bạch Đằng (8-3-1288) đại thắng Nguyên Mông. Ngày 17, Trần Hưng Đạo rước hai vua về Thăng Long mừng chiến thắng. Ông cho đem bọn tù binh tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc, Sầm Đoạn vào làm lễ hiến phù ở trước Chiêu Lăng nơi giặc Nguyên đã tàn phá.
Vua Nhân tông Trần Khâm nhìn chân ngựa đá lấm bùn như vừa đi chiến trận trở về nên nảy tứ thơ tuyệt tác, dâng làm lễ yết:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá.
Non sông ngàn thuở vững âu vàng.
(Nam Sử:“ Ngã quốc gia do nhược kim âu, vô nhất thương khuyết.” -Quốc gia ta như cái âu vàng không sứt mẻ)
Nhà thơ Trúc Thanh (Ngô Gia Chi 1930-1994) – Chiều Xuân vãn cảnh đền Trần :
Xã tắc lưỡng hồi… câu tuyệt bút,
Sơn hà thiên cổ… nét vàng phơi.
Cánh buồm đất nước từng rong ruổi,
Tay lái con người há lỏng lơi.

Xác Ve
Sự tích Ve Sầu và Bọ Ngựa: Nhà nọ có người vợ đỏng đảnh, đa tình. Gặp thời chiến, chồng phải đi lính. Vợ ở nhà tìm được tình nhân mới. Vợ sợ lộ nên khi chồng về đã giết đi. Chồng hóa thành con Ve kêu oan sầu rả rích, xác xơ.
Trời động lòng thương. Bắt cặp gian phu dâm phụ hóa thành đôi Bọ Ngựa. Tuy nhiên, tính tình Bọ Ngựa cái vẫn không đổi. Giận chồng cũ, gặp là ăn thịt liền. Giận lan sang cả người tình
mới, nên khi giao phối xong nàng cũng ăn thịt chàng luôn.
x. Lạnh tiếng ve.
Lê Ngọc Hân – Ai Tư vãn:
Trong sáu viện ố đào ủ liễu
Xác Ve gầy lỏng lẻo xiêm nghê.

Xách thớt chia phần
Tể nhục thậm quân
Trần Bình, làm mõ làng Hộ Dũ đất Dương Võ. Chia phần xôi thịt đã được khen: “Bình tể nhục thậm quân”- Bình chia thịt rất đều. Bình thích chí nói: Bình Tể tướng sẽ như chia thịt. Bình theo Hạng Vũ. Hạng giao Bình đánh An Vương. Song thế trận bất phân thắng bại. Sợ Hạng Vũ phạt, Bình bỏ trốn đến Tu Vũ theo Lưu Bang. Bình công, Lưu Bang phong Trần Bình tước Hạ Dũ hầu.
Lưu Bang chết. Bình theo Lã Trĩ, vợ Lưu. Trĩ chết, Bình theo Chu Bột lập Hán Văn đế (Lưu Hằng 179-156 trCN).
Vương Lăng người cùng làng và được Lưu Bang coi như người anh. Khi Bang dấy binh kéo đến Hàm Dương thì Vương Lăng cũng tụ nghĩa mấy nghìn quân ở Nam Dương chống Tần. Đến khi Lưu Bang chống Hạng Tịch, Vương Lăng mới chịu theo Lưu. Bình công, Lưu phong Vương Lăng Tả Thừa tướng.  x. Sắt son
Lã Trĩ mưu cướp ngôi nhà chồng, Vương Lăng không theo, bị Trĩ giáng Thái phó. Vương cáo bệnh về quê. Trần Bình cố theo Lã Trĩ để lên chức Thừa tướng. Vương Lăng diễu: Muôn một cũng liều thân với nước, Cớ sao mà chịu ấn mương mương?
Nguyễn Công Trứ – Hàn Nho phong vị, phú:
Nơi thành hạ gieo cần câu cá, kìa kìa người quốc sĩ Hoài Âm;
Chốn lý trung xách thớt chia phần, nọ nọ dáng mưu thần Dương Võ.

Xáo thịt nồi da
Bì oa cử nhục.
Có lẽ từ nguyên thủy. Khi săn được thú rừng, thợ săn lột da thú làm nồi để nấu thịt ăn. Hiện một số làng thuộc Thanh Ba, Vĩnh Phú, lễ cúng sơn thần và lễ cầu xuân vẫn giữ tục này.
Trâu, lợn giết, cúng tế xong rồi cùng ăn, cùng múa hát.
Nguyễn Văn Trực (1737- ?). Người làng Văn Hà, Đức Phong, Mộ Đức, Quảng Ngãi – Hịch Tây Sơn khí nghĩa:
…Xáo thịt nồi da gia đình chia xẻ,
Mặc cho giặc Tây Dương ngấp nghé nhìn vào.

Xáo voi
Mười voi không được bát nước xáo (Tục ngữ)
Gắn liền với chuyện một nhà kia có ba con rể. Bố vợ chết, hai rể đầu, người mang lợn, người mang vịt đến làm đám ma. Chàng rể thứ ba nói, to gì con lợn, lớn gì con vịt ! Tôi á ? Sẽ mua 10 con voi về làm báo hiếu. Đi tìm mua voi tới khi đám xong mới về, mặt cau có:
– Bực thật ! Định mua 10 voi. Tìm mãi mà một người chỉ có tám con. Tôi bảo đủ 10 con sẽ mua.
Nguyễn Công Trứ – Thế tình bạc bẽo :
Dám xin các bác phen này nữa :
Nấu xáo xin đừng nấu xáo voi.

Xảo ngôn
Thượng thư- Cao Dao mô: Bàn chuyện trị quốc, Cao Dao nói Cần phải biết người, khéo dùng người. Đại Vũ đồng tình: Đó là người có trí tuệ mới có thể biết dùng người. Nếu làm được như vậy thì sợ gì bọn xảo ngôn lệnh sắc (Dẻo mồm khéo nịnh).
Khổng Tử:“ Xảo ngôn lệnh sắc, tiểu hĩ nhân. – Người khéo nói lại làm ra dáng vẻ người tốt thì ít có bậc nhân.
Quần thần Thục Hán vây quanh Lưu Bị ở thành Bạch Đế. Lưu thấy Mã Tắc thì bảo lui ra rồi gọi Khổng Minh tới, nói:
– Thừa tướng xem Mã Tắc thế nào ?
– Thưa, cũng là anh tài đời này !
– Không đâu ! Trẫm thấy người ấy ngôn quá kỳ thực bất khả trọng dụng. Thừa tướng xét kỹ lại.
Mã Tắc cố tình xin đi trấn ải Nhai Đình nơi sống còn của Thục Hán. Vì không nghe Vương Bình, cậy tài nên Tắc bị thảm bại.

Xập xí xập ngầu
Mười bốn thành mười lăm (thập tứ, thập ngũ).
Âm tiếng Triều Châu (Trung Quốc) được Việt hóa.
Chỉ sự gian lận, làm điều mờ ám.
Tác Phẩm Mới, Tạp chí số 31:
– Hừ, lợi dụng người ta lạ nước lạ cái, anh xập xí xập ngầu.
.
Xe chở, đấu đong.
Xa tái, đấu lượng
Tam Quốc chí – Ngô thư, Tôn Quyền truyện: Nước Thục nhờ tài Khổng Minh mà lập nhiều lần thắng Ngô – Ngụy. Sau khi Ngô (229-280) cử sứ cầu viện Ngụy, Văn đế Tào Phi muốn đạt mục đích thống nhất thiên hạ đã viết thư phong Tôn Quyền làm vương. Tôn sai đại phu Triệu Tư đến Ngụy để cảm tạ. Tào Phi ngạo mạn hỏi:
– Ngô vương của ngươi như thế nào, sợ nước Ngụy chứ?
Triệu Tư ghìm phẫn uất để giữ lời từ tốn:
– Ngô vương tôi là bậc anh hùng.Việc trọng dụng Lỗ Túc chứng tỏ sự thông tuệ của người. Phong chức cho Lỗ Mông chứng tỏ sự sáng suốt của người. Tha giết cho Vu Cấm chứng tỏ lòng nhân nghĩa của người. Lấy Kinh Châu mà không phí máu chứng tỏ tài năng của người. Chiếm cứ tam châu nhìn về bốn hướng chứng tỏ tài kinh bang của người. Còn việc xưng thần với bệ hạ chứng tỏ người rất am tường sách lược. Bởi vậy thần thầm nghĩ dù nước lớn có vũ lực thì nước bé cũng sẽ có sách lược chống chọi. Huống hồ nước Ngô của thần hàng triệu binh hùng với Hán giang vững chắc, hà tất phải sợ ai?
Thấy Triệu hùng biện giỏi dang, thư thái, Phi khâm phục:
– Ở nước Ngô người như ông có được bao nhiêu?
– Nước Ngô, người trí dũng song toàn không dưới tám chín trăm người. Còn người như thần đây thì xa tải đấu lượng, không sao đếm xuể. (Từ xưa ta vẫn gọi giặc Tàu là giặc Ngô)
Ca dao :
Tầng tầng xác lũ giặc Ngô
Đấu đong xe chở chất mồ đất Nam.

Xe dành bên tả
Chiến Quốc sách: Công tử nước Ngụy mời ẩn sĩ Hầu Doanh ra giúp mấy lần không được. Đem xe đến mời, Ngụy công tử luôn luôn dành chỗ bên tả (tỏ ý trân trọng) mời Hầu Doanh ngồi.
Nguyễn Trãi – Bình Ngô đại cáo:
“…Cố ư đãi hiền chi xa thường cấp cấp dĩ ư tả.”- Cho nên xe đãi hiền để giành bên tả.

Xe dê
Xe dê kéo.
Tấn thư: Tấn Vũ đế Tư Mã Viêm (265-290) có rất nhiều cung phi nên mỗi lần hứng chí muốn “thăm” không biết đến với ai. Đế phải nghĩ ra cách ngồi lên chiếc xe bắt con dê đực kéo đi. Dê đến cửa cung nào thì Đế vào cung ấy. Vì thế các cung “cô” muốn cố đấm ăn xôi thì phải cho rắc lá dâu tẩm muối dụ dê vào. Dê thấy món ăn khoái khẩu ấy mà bước đến cửa loan phòng…
Nguyễn Gia Thiều – Cung oán ngâm khúc:
Phải duyên hương lửa cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu tìm vào.

Xe mây
Vân xa.
1. Người xưa, dùng chiến xa có mui che cao gọi xe mây.
2. Bác Vật chí ghi:“ Hán Vũ đế hiếu đạo, thất nguyệt, thất nhật dạ lậu thất khắc. Tây Vương Mẫu thừa tử vân xa lai.”- Hán Vũ đế mộ đạo. Đêm mồng 7 tháng 7, đồng hồ điểm 7 tiếng, Tây Vương Mẫu cỡi xe mây tới thăm.
Nguyễn Gia Môn – Không ngại gió mưa:
Gậy trúc bày hàng ra đứng tế, ô hô rồi ngâm khúc bi ai.
Xe mây đủng đỉnh sắp đi đưa, khóc lóc vẫn ghi lời huấn hối.

Xua dê đi đánh cọp

Chiến Quốc sách – Trương Nghi vi Tần phá tung: Trương Nghi, tướng quốc Tần, để phá thế hợp tung của Tô Tần đã thuyết Sở Hoài vương:“ Tần binh hùng như hổ. Chiến sa ngàn cỗ. Chiến mã vạn con. Lúa chất như núi. Vua oai nghiêm. Tướng trí dũng. Lệnh nghiêm mà binh quyết chiến. Không cần xuất quân cũng chiếm được Trường Sơn. Những kẻ chủ trương hợp tung có khác gì xua đàn dê đi đánh cọp”.
      Ngô Thì Nhậm (1746-1803), hiệu Hy Doãn. Người làng Tó, Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1789, Thượng thư bộ Binh, cai quản Bắc Hà. Tháng 11-1788 giặc Mãn Thanh đem 29 vạn quân xuất phát từ Quảng Tây ồ ạt xâm lấn nước ta. Để bảo toàn lực lượng, Ngô Thì Nhậm, phân tích:“…Đem quân đánh như thế khác nào xua dê đi đánh cọp… Có cách cho thủy quân ta chở lương thực đến Biện Sơn, quân bộ đến núi Tam Điệp mà giữ. Thủy bộ thông nhau giữ chỗ hiểm, vững thế thủ. Chờ chúa công ra”.
Dãy núi Tam Điệp nằm giữa Ninh Bình – Thanh Hóa có đèo Ba Dội, quốc lộ 1 chạy qua. Các cuộc chiến xưa, bên nào giữ  được thế hiểm ở đây, bên đó chiến thắng.

Xuân đài
Xuân: mùa xuân. Đài: cái nhà cao nhằm để trông xa.
Lão Tử – Đạo đức kinh (chương 20):“ Chúng nhân hy hy, như hưởng thái lao, như xuân đăng đài.” – Người người vui vẻ như hưởng đại tiệc, như lên xuân đài.
Nguyễn Xuân Chính, Trạng nguyên năm 1637 –Trấn Quốc Tự minh (bài minh chùa Trấn Quốc viết năm 1639):
…Thế hựu xuân đài
Nhân sài thọ vực.
Công bộc bách niên
Phúc thùy vạn ức…
Đời đẹp xuân đài, Người vui thọ vực. Công gấp trăm ngàn, Phúc dài muôn ức….

Xuân Thu – Chiến Quốc
Đông Chu (770-221 trCN): là thời Xuân Thu Chiến Quốc.
1. Giai đoạn Xuân Thu (770-403 trCN). Khổng Tử chép sự việc xảy ra trong 242 năm, tên sách Xuân Thu. Đời sau gọi luôn là thời Xuân Thu. Thời Xuân Thu có hơn 100 nước, trong đó 14 nước lớn: Lỗ, Ngô, Sái, Sở, Tần, Tấn, Tề, Tào, Tống, Trần, Trịnh, Vệ, Việt, Yên. Có bốn nước thay nhau làm bá chủ với các đời vua là Tề Hoàn công 656trCN, Tấn Văn công 632trCN, Tần Mục công 621trCN, Sở Trang vương 597trCN.
2. Giai đoạn Chiến Quốc (403-221 trCN). Các nước đánh lẫn nhau liên miên. Nước Tấn chia làm ba nước là Triệu, Ngụy, Hàn. Rồi 7 nước mạnh (thất hùng) trỗi dậy: Hàn, Ngụy, Tần, Tề, Triệu, Sở, Yên tranh bá với nhà Chu. Năm 367trCN, nước Chu phân liệt thành hai nước Đông Chu và Tây Chu.
Nhà Tần mạnh lên, diệt Đông Chu năm 256trCN rồi diệt Tây Chu năm 249trCN. Diệt tiếp Hàn năm 230trCN, Triệu 228 trCN, Ngụy 225trCN, Sở 223trCN, Yên 222trCN, và cuối cùng diệt Tề năm 221trCN để thống nhất Trung Nguyên.
Theo Việt Nam sử lược và Quốc triều chính biên: Đặng Trần Thường (1759-1813) tới nhờ Ngô Thì Nhậm tiến cử với Quang Trung. Thấy thái độ xun xoe, Nhậm nói: Ở đây cần người tài hạnh giúp vua trị nước, chứ vào luồn ra cúi thì đi nơi khác. Thường tức, bỏ theo Nguyễn Ánh. Khi làm Binh Lộ Thượng thư Bắc kỳ 1803, Đặng Trần Thường cho gọi Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phạm… ra Văn Miếu hạch tội rồi ra vế đối:“ Ai công hầu, ai khanh tướng, trên trần ai, ai dễ biết ai”.
Ngô Thì Nhậm đối: “ Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.”
Trần Thường uất ức nói: Tài ngươi đáng khen nhưng cái đầu ngươi không đáng kể. Sai lính đánh 30 roi tẩm độc, đau chảy máu. Ba ngày sau Ngô Thì Nhậm chết. Trước khi chết ông làm bài tuyệt bút dặn gửi cho Thường:“ Ai tai Đặng Trần Thường, Chân như yến xứ đường. Vị Ương cung cớ sự, Diệc thì nhĩ thu trường.”- Thương thay Đặng Trần Thường nay quyền thế lắm đấy nhưng khác chi yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, khốn sẽ tới nơi. Như Hàn Tín giúp Lưu Bang mà bị giết ở cung Vị Ương.
Do hiềm khích, bị Lê Chất cáo tội, Đặng Trần Thường bị án hình giảo. Trong ngục ông viết: Tần cung nữ oán Bái công văn.

Xuất khẩu thành chương
Lưu An – Hoài Nam Tử – Tu vụ huấn: Lời bình luận về vua Thuấn:“ Tác sự thành pháp, xuất khẩu thành chương.” – Việc làm thì chuẩn mực mọi người theo, lời nói hay như là văn vậy.
Giai thoại:
Theo Tam quốc – Ngụy chí – Truyện Trần Tư vương Trực:
Tào Thực (192-232), năm 202, mười tuổi làm thơ nhân cuộc hội thơ khi Tào Tháo xây xong đài Đồng Tước ở bờ sông Nghiệp Thành. Tào Tháo xem thơ của con trai mà thật kinh ngạc đến không tin, nghi rằng nhờ người khác giúp. Tào Thực nói: Con có thể ngôn xuất vi luận, hạ bút thành chương. Xin cha kiểm tra tại chỗ. Tào Tháo nói: Ồ, ta tin là như vậy.

Xuất kỳ bất ý
Tôn Tử binh pháp – Kế Thiên: “Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý.”- Tấn công lúc đối phương sơ hở, hành động bất ngờ.
Nước Ngụy cử Bàng Quyên thảo phạt Triệu, vây tới kinh đô Hàm Đan.
Triệu phải cầu cứu Tề. Quân sư Tôn Tẫn dùng kế Xuất kỳ bất ý : Một mặt bất ngờ đánh thẳng vào kinh đô Đại Lương Ngụy. Mặt khác đồng thời phục kích ở Mã Lăng đón lõng Quyên về giải cứu.
Vào một đêm năm 341trCN, hành quân từ Triệu về tới Mã Lăng, thấy cây gọt vỏ đề chữ Bàng Quyên tử vu thử thụ chi hạ! – Bàng Quyên chết dưới cây này! Bàng Quyên cho bật đèn xem xét. Lọt thế. Bẫy sập. Hàng ngàn mũi tên lao ra. Bàng Quyên nhận được sáu mũi sâu đích đáng. Uất ức, Bàng Quyên tự đâm cổ chết. x. Thế trận.
Nhà văn Chu Thiên (Hoàng Minh Giám 1913-1992). Người làng Đô Hoàng, Ý Yên, Nam Định – Bóng nước Hồ Gươm:
Thôi thế này nhé, nếu được làm ngay quan lớn ạ, làm sớm xuất kỳ bất ý khỏi lộ.

Xung quan
Nộ phát xung quan. Tức dựng tóc gáy (làm bay mũ).
Sử Ký – Liêm Pha, Lan Tương Như liệt truyện. Triệu Huệ Văn vương (298-266 trCN) cử Đại phu Lạn Tương Như đi sứ sang nước Tần việc Tần nói đổi 15 thành trì lấy viên ngọc Hòa Thị. Thấy Tần Chiêu Tương vương (306-250 trCN) lộ ý không thật, Lạn nói: Ngọc này có vết, thần chỉ cho đại vương xem. Ông liền cầm ngọc lùi ra phía cột nhà nộ phát xung quan ( tức dựng tóc mà rơi mũ) nói :…Kẻ áo vải không dối nhau nữa là nước lớn. Đại vương cứ muốn bức bách thần thì đầu thần và viên ngọc đều vỡ ở cái cột này !
Vua Tần thấy Lạn Tương Như không chịu lép, đành phải trả ngọc cho Triệu.
Ba Giai (Nguyễn Văn Giai). Người làng Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội – Hà thành chính khí ca (Pháp chiếm Hà Nội 25-4-1882):
Tiêm cừu nổi giận xung quan
Quyết rằng chẳng để chi đàn chó, dê.

Xương mai
Cây Mai tên khoa học :Prunnus armeniaca Lamk.
Thường trồng ở miền Bắc nước ta. Thuộc họ Hoa Hồng. Ra hoa trắng đầu Xuân trước khi trổ lá. Trái chín vàng, ngọt, vị chua. Có nơi gọi là mơ (Abricotier).
Thân, cành mảnh mai, thanh tú. Được ví với dáng vóc nhỏ nhắn gầy yếu (xương xương) của người con gái.
Nguyễn Du – Truyện Kiều:
.                                Xương mai tính đã rũ mòn
.                            Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay.

Xướng họa (thơ)
Một cách tu từ. Xướng: dẫn dắt. Bài hay câu thơ mời họa.
Họa: đáp lại. Bài thơ (câu thơ) họa mà chỉ một chữ cuối của vần thơ giống hệt như bài xướng.
Cao Bá Quát – Tài tử đa cùng, phú:
Dốc bầu rượu dốc nghiêng non nước xuống, chén tiếu đàm mời mọc Trích Tiên.
Hong túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng, họa thì thầm Lão- Đỗ.

Y

Y bát
Áo casa và bát ăn cơm ở nhà chùa.
Những thứ người tu hành truyền cho nhau. Tục có thể bắt đầu từ Đạt Ma. Vào đời Lương Vũ đế (502-526) thiền sư Đạt Ma từ Ấn Độ vượt biển đến Quảng Châu. Dừng ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, Hà Nam. Đến năm 532, Đạt Ma truyền y – bát cho nhà sư Huệ Khả (Thần Quang 486-539) đời thứ hai. Rồi rồi tiếp Tăng Xán (?-606), Đạo Tín (580-651), Hoằng Nhẫn (601-674)…
Nguyễn Hữu Chỉnh – Trương Lưu hầu, phú :
.                                   Y bát theo một mối cầm thư
                                   Chung đỉnh dõi năm đời khanh tướng.

Y Doãn
Y Chí người đất Sằn Dã.
Ẩn sĩ, cày ruộng. Sau, giúp Thành Thang thi hành nhân chính xây dựng vương nghiệp. Được phong chức Doãn nên gọi Y Doãn. Có công diệt vua Kiệt nhà Hạ. Lập nhà Thương (1767-1122 trCN) đô đất Bạc ở Thương Khâu (Hà Nam). Y Doãn được phong chức A Hành.
Luận Ngữ:“ Thang hữu thiên hạ, truyền ư chúng, cử Y Doãn bất nhân dã viễn.”- Vua Thang được thiên hạ, chọn trong dân chúng lấy Y Doãn, bọn độc ác phải lánh xa.
Vua Thang chết, cháu là Thái Giáp vô đạo, ông bắt đày cải tạo ba năm trở thành người tốt mới cho về giao ngôi.
Khảo dị :
Theo Trúc Thư kỷ niên – Biên niên sử cổ thời Chiến Quốc nước Ngụy (được phát hiện năm 281 thời Tây Tấn): Sau khi Thành Thang chết năm 1761trCN, Y Doãn lập 2 đời vua nữa lên thay nhưng đều chết yểu. Y Doãn đưa Thái Giáp, đích tôn Thành Thang lên thay. Vì bất hòa nên đày Thái Giáp ở đất Đổng Cung. Thái Giáp trốn. Bảy năm sau tập hợp quân về đánh chiếm lại.
Đào Duy Từ (1572-1634) – Ngọa Long cương văn:
…Doãn chưa đặng lễ Thang vời,
Cày kia chưa dễ buông nơi nội Sằn.

Ý dã
Y Thư: Y giả ý dã. Người thầy thuốc cốt lõi là phải học rộng và hiểu hiểu sâu sa. x. Gia thất
Nguyễn Công Trứ – Hàn Nho phong vị, phú:
Thuốc men rắp bòn chài gỡ bữa, song nghĩ câu ý dã, thế nào cho đáng lương y,
Thầy bà mong dối trá kiếm ăn, lại nghĩ chữ dũng như, phép chi được nổi danh pháp chủ.

Ý hợp tâm đầu
Sử Bân – Kim Thoa ký (đời Thanh): “Thính thoa tiếu ngữ như bách họa. Tưởng thị tình đầu ý hợp.”- Nghe giọng nói cười giống cả trăm. Tưởng thực tâm đầu ý hợp.
Nhà văn Nguyễn Trường, sinh 1959 tại Hà Toại, Hà Trung, Thanh Hóa – Hơn cả tình yêu (Tiểu thuyết, chương 8):
Ông Năm giật mình, cười:
– Tôi với anh là chỗ quá thân tình. Miễn tụi nó thương nhau là mình vui. Tôi coi hai đứa cũng ý hợp tâm đầu.

Ỷ ca
Trong lối hát giao duyên quan họ, hát phường vải, hát đối, hát dặm… thường một bên hát trước. Bên hát sau dựa vào nội dung câu hát của đối ca mà hát đáp lại. Các ca nương, ca sĩ ấy,
xưa gọi chung là ỷ ca.
Nguyễn Công Trứ – Vịnh tiền Xích Bích :
Ngươi ỷ ca réo rắt khúc cung thương,
Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước.

Ỷ, la
Nguyên ủy, ỷ – la có nghĩa vải lụa, vải là. Vì sự đẹp lộng lẫy của nó, người Tàu cổ có điệu hát Ỷ la hương.
Các nhà thơ Đường, Tống đem xử dụng trong thơ văn. Ví dụ thơ Âu Dương Tu : Ỷ la hương lý lưu gia khách
Huyền quản thanh lai dương vãng phong.
Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh – Phụng thành xuân sắc :
Chín bức lâu đài ngọc chúc,
ngàn lần la, ỷ cẩm nhung.

Ỷ lan
Năm 1063 Lý Thánh tông Nhật Tôn (1054-1072) 40 tuổi chưa có con trai. Ông đi cầu tự ở chùa Siêu Loại làng Thổ Lỗi, Văn Giang, Hưng Yên. Dân làng đổ xô xem mặt rồng.
Riêng cô gái xinh xắn hái dâu mê mải tên Lê Thị Lầm, đứng xa bên bãi cỏ Lan liếc nhìn vội vã. Vua ngó ngiêng thấy lạ, liền tới hỏi. Tiếng nàng nhẹ nhàng trong trẻo, vì nhà neo, mẹ già nên phải… Vua cười độ lượng vừa muốn đưa tình, vừa khen tặng cái giọng thanh thoát nàng trao. Lầm bình tĩnh đong đưa câu mà người làng thường hát, như lời định mệnh: Người thanh thì tiếng cũng thanh, Chuông kêu đánh ở góc đình cũng kêu. Vua thích chí đưa về cung đổi tên Lê thị Yến Loan. Phong Ỷ Lan phu nhân.
Năm 1066 bà sinh Càn Đức. Vua mừng rỡ phong Ỷ Lan Thần phi. Năm 1068 bà sinh một trai nữa, lại được phong Nguyên phi, đứng đầu các phi.
Năm 1072 Thánh tông chết. Thái tử Càn Đức 7 tuổi, nối ngôi hiệu Nhân Tông. Bà được tôn Hoàng Thái phi Linh Nhân.
Thượng Dương hoàng hậu (vợ cả Nhật tôn) làm Hoàng Thái hậu buông rèm nghe chính sự. Thái sư Lý Đạo Thành phụ chính.
Đại Việt Sử ký toàn thư: Linh Nhân (1044?-1117) nói với con trai: “Mẹ già này khó nhọc mới có ngày nay mà bây giờ phú quý người khác được hưởng, toan để mẹ già này vào đâu?”.
Nhờ Lý Thường Kiệt ủng hộ, đem Dương Thái hậu và thị nữ 76 người nhốt vào cung Thượng Dương rồi bức tử, chôn theo lăng Thánh tôn. Lý Đạo Thành bị biếm làm Trấn thủ Nghệ An.
Nguyễn Trãi – Họa vần thơ của Cúc Pha tặng:
Mỹ ngọc bất lao cầu thiện giả,
Ỷ lan chung tự thổ thanh phân.
Ngọc tốt khỏi phiền treo giá đắt,
Lan thơm rồi tự ngát mùi thơm.
Ngô Linh Ngọc dịch.

Ỷ môn
Tựa cửa.
Chiến Quốc sách: Vương Tôn Giả hộ tống Tề Mẫn vương (323-284 trCN), chạy loạn tới Cử Châu thì bị lạc đường. Không tìm thấy vua đâu, Vương đành bỏ về nhà. Mẹ Vương Tôn Giả nghe xong, nói:“ Nhữ triều xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng nhữ. Nhữ mộ xuất nhi bất hoàn, tắc ngô ỷ lư nhi vọng nhữ.”- Mỗi sáng con đi chiều về, mẹ tựa cửa ngóng con. Mỗi tối ra đi mà không thấy về thì mẹ đứng tựa cổng làng ngóng con.
Nghe lời mẹ, Tôn Giả trở lại tìm. Thấy vua bị hại, anh đã hô hào được 400 người dân xông vào giết Trác Xỉ, kẻ đã giết vua.
Cao Bá Quát – Mộ kiều quy nữ (Cô gái qua cầu chiều):
Phong lộ quá kiều hồn bất ác,
Ỷ môn ưng hữu vọng nùng qui.
Sương gió qua cầu quên hết rét,
Tưởng ai tựa cửa nóng lòng chờ.

Ỷ tân trang
Năm 744, Minh hoàng Lý Long Cơ chiều ý người đẹp Dương Ngọc Hoàn đang thưởng ngoạn Mẫu Đơn hoa ở vườn Ngự. Ông vời Lý Bạch đến viết ca từ mới cho ban nhạc Lê Viên. Đang lúc ngà say hứng chí, Lý viết luôn ba khúc đặt là Thanh Bình điệu. (khúc 2):
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự?
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.
Ngô Tất Tố dịch:
Hương đồng móc đượm một cành hồng,
Non Giáp mây mưa những cực lòng,
Ướm hỏi Hán cung ai mảng tưởng?
Điểm tô nàng Yến tốn bao công!
Lý Bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Trường Canh và Thanh Liên cư sĩ. Quê gốc Thanh Kỷ, Lũng Tây (Thiên Thủy, Cam Túc). Cuối đời Tùy, tổ tiên bị đày đi Tây Vực nên ông sinh ở Trung Á. Lên 5, theo cha về Miên Châu (Tứ Xuyên). Thời thơ, học ở đất Ba Thục. 25 tuổi, chống kiếm viễn du. Đường Minh hoàng tôn kính mời làm chức Hàn lâm Cung phụng sứ. Có lần thị yến rượu say, vua sai hoạn quan Cao Lực Sĩ cởi giày cho ông ngủ. Vì thế Cao ghét Lý, liền lấy Thanh Bình điệu ra tâu với Dương Quý phi rằng Lý ví bà ỷ tân trang, tạo dáng hào nhoáng nhờ son phấn như kẻ hạ tiện Phi Yến.
Thi tứ này đã hao tốn bao bút mực tao nhân dịch ỷ tân trang.
Phi Yến, họ Triệu, vốn họ Phùng. Giỏi ca vũ và nghệ thuật phòng loan. Được Lâm A công chúa tuyển vào cung cùng em gái là Hiệp Đức. Là Hoàng hậu của Hán Thành đế (32-7 trCN) Thành đế bị Thượng mã phong với Hiệp Đức. Tới Hán Bình đế,
tìm ra sự trác trụy của Phi Yến nên phế làm phu nhân. Bà tự vẫn.
Không ngờ con chữ thành con dao khoét cốt. Bị Dương Quý phi ghét, Minh Hoàng ghét lây dù rất thích bài Thanh Bình điệu. Cũng năm đó, Lý Bạch bỏ nhiệm sở ra đi với nỗi bất phùng thời.
Một hôm ông đến chơi ở ghềnh Thái Thạch sông Dương Tử, An Huy, uống rượu làm thơ Trăng. Ông nhìn Trăng dưới sông lấp lánh như mời gọi liền nhảy xuống ôm để mãi mãi giữ được trong lòng…! Đó là năm 762.
Thơ Lý lãng mạn. Hoài bão một hiệp khách băn khoăn cứu khốn phò nguy. Lại phảng phất siêu trần. Cấu thành tính cách thơ phóng khoáng tiên sa.
Từ sau khi Lý từ chức hữu danh vô thực, bỏ áo chính trường, thơ ý thức tự do ẩn dụ nhiều trắc trở cuộc đời.
Ca dao:
Lòng son luyện kỹ hơn vàng
Việc gì phải ỷ tân trang nhuộm màu

Yên Tử
Sách Hải Nhạc danh đồ (đời Tống): Ngôi phúc địa liệt vào hàng thứ tư trong thiên hạ là núi Yên Tử ở Giao Châu.
Núi Yên Tử cao 1068m, thuộc Đông Triều, Quảng Ninh.
Tương truyền Đạo sĩ Yên Kỳ Sinh tu luyện ở đây nên gọi
Yên Tử. Đỉnh Tử Tiêu có am Ngọa Vân và Long Động. Có chùa Hoa Yên. Chùa Đồng và Tháp tổ xây năm 1758 cao ba tầng.
Nguyên là năm 1299 Thái hoàng Trần Nhân tông (1258-1308), sau 6 năm nhường ngôi cho con, đã xuất gia tu hành. Tới đây xây chùa thờ Phật. Lập ra Thiền phái Trúc Lâm.
Nguyễn Trãi – Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự:
Yên sơn, sơn thượng tối cao phong,
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng…
Đề chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử: Trên dải Yên Sơn đỉnh tột
vời, Đầu canh năm đã sáng trưng rồi.
Khương Hữu Dụng dịch.

Yến anh
Tên khoa học: Chim yến họ Apodidae.
.                      Chim anh: Oriolus oriolus
Người xưa đã quan sát rồi dùng từ này ám chỉ sự tiếp giao ríu rít một cách phóng túng của chim yến và chim vàng anh.
Ngày nay những nghiên cứu khoa học đã xác nhận chim yến ngủ và giao phối khi bay.
Nguyễn Du -Truyện Kiều:
.                                 Mây mưa đánh đổ đá vàng,
.                       Quá chiều nên đã chán chường yến anh.

Yêu là chết ở trong lòng một chút
Là câu trong bài thơ Yêu của Nhà thơ Xuân Diệu (1917 -1985). Trong một bài viết, ông nói lấy từ ý câu thơ đầu, bài thơ Rondel de l’adieu (khúc ca ly biệt) của Nhà thơ Pháp Edmont Haraucourt (1856-1914) :
.                                      “ Partir, c’ est mourir un peu,
.                                         C’est mourir à ce qu’on aime.

Đi, là chết ở trong lòng một ít,
Nỗi chết riêng đem theo kẻ đắm yêu.
.     Nhà văn Hương Nhu – Ký ức miền chân sóng (Tiểu thuyết, chương 5):
Bỗng nhiên Ngọc nhìn Thảo như đăm chiêu, định hình:
–  Yêu là chết ở trong lòng một chút là vậy đấy. Thôi thôi nàng ơi! Ta bảo cho nàng biết này, nàng đang bay vào vùng dăng lưới….  

 

BÌNH LUẬN