Nguyễn Trường -VƯƠNG QUỐC MỘNG MƠ – Chùm truyện ngắn giải nhất báo Văn Nghệ (2015-17)

0
996

Nha van Nguyen Truong doat giai nhat cuoc thi truyen ngan bao Van nghe hinh anh 1               VƯƠNG QUỐC MỘNG MƠ

.                              Truyện ngắn của NGUYỄN TRƯỜNG

Bình minh bừng lên trên sông Tiền mênh mông. Những con sóng lấp lánh, cuồn cuộn chảy xuôi cuốn theo những bè lục bình như đoàn chiến mã đuổi nhau vô tận về phía hạ nguồn. Ánh ban mai rực lên khắp Cồn Phụng, lên cổng lăng Minh Mạng được đắp vẽ cầu kỳ.
Những mảnh thủy tinh hắt ánh sáng sang hàng bần ven bờ sông những đường kỳ ảo muôn màu muôn vẻ làm Mỹ Lan cứ hết nhìn ra sông lại nhìn cảnh vật trên cồn với nhiều tò mò, thích thú. Mới về nước chiều qua thì sáng nay cha cô đã đưa sang viếng thăm Cồn Phụng, bởi theo ông nơi đây có rất nhiều kỷ niệm, dù đã chia xa đến 40 năm, vẫn ám ảnh ông cả trong giấc ngủ. Mỹ Lan năm nay mới 24 tuổi, vừa tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ. Hôm nay, cô mặc quần jean màu xanh đậm, áo thun trắng kiểu cách, bỏ trong quần càng nổi những đường cong chuẩn như vòng đo hoa hậu. Cô có dáng người thanh mảnh, khuôn mặt tươi rói, đôi mắt to, xanh như màu mắt người phương Tây, môi má ửng hồng tự nhiên, không cần son phấn vẫn đẹp rờ rỡ. Ông Đỗ Thành Nhơn- cha cô- đi đâu cũng muốn kéo con gái đi cùng. Cô làm ông vui, tự hào. Càng ngày ông càng yêu mến Mỹ Lan. Người ta nói con gái là người tình kiếp trước của cha quả không sai.
.      Sáng nay cô được cha dẫn đi thăm cồn Phụng, phế tích một thời của ông đạo Dừa. Vừa đi ông vừa giảng cho con nghe những điển tích của một thời ông đạo đã tu hành:
– Đây là mô hình Thất Sơn huyền bí – nơi cậu Hai đã bỏ ra 3 năm  tầm sư học đạo, khổ hạnh tu hành để làm nên nghiệp lớn. Con có nhìn thấy chiếc bệ hình bán nguyệt kia không? Bên trên vẽ chín tầng mây và trên đỉnh núi có tượng con gà trống đứng trên quả địa cầu đang vươn cổ gáy. Cậu Hai sinh năm Kỷ Dậu, cầm tinh con gà. Cậu ví mình như thần kê đang cất tiếng gáy, báo hiệu bình minh.
.    Cô gái nhìn thấy bên cạnh chú gà trống còn có cây Thánh giá của đạo Thiên Chúa và lá cờ Đà của Phật giáo. Sau Thất Sơn, chiếc sa bàn nước Việt Nam được đắp dài hơn ba chục mét. Mô hình chi tiết đến từng dãy núi con sông, có tuyến đường sắt, đường bộ, có cả thành phố Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ở ngay thủ đô Hà Nội lại dựng một cột thép trên có tam giác đài. Phía thành phố Sài Gòn cũng có chiếc cột cao như thế, bên trên là Bát Quái đài, giữa hai đài Hà Nội và Sài Gòn được nối với nhau bởi chiếc cầu cong cong. Hai cha con đứng trước sân rộng lát bằng loại gạch men xanh. Giờ đây thời gian, nắng mưa đã làm nó ố bạc, tróc lở nham nhở. Đây là sân chầu của triều đình cậu Hai. Hòn gạch mà ông Nhơn quỳ trong buổi xử tội như còn hằn vết đầu gối của ông dưới sân rồng.
– Con ạ, cha muốn kể cho con nghe chuyện này. Chính nó đã góp phần gắn kết mẹ con với cha, chung thủy, son sắt cho đến ngày hôm nay.
Ông kéo con ngồi xuống bệ tam cấp (Trước kia là 9 bậc dẫn lên bệ rồng. Song, thời gian đã làm nó vỡ nát và chỉ còn lại ba bậc). Vừa kể, ông Nhơn vừa mơ màng như còn thấy cậu Hai ngồi trên ngai vàng, mặc áo rồng phượng, oai nghiêm như Minh Mạng hoàng đế. Phía dưới, tả hữu các quan quỳ chầu  răm rắp.
Nhơn bị trói tay bằng sợi dây dù, ở trần, chỉ mặc quần cộc, lưng, vai tím bầm bởi những trận đòn tra khảo rất dã man. Cô gái quỳ bên cạnh Nhơn quần áo rách te tua và trên mặt, trên người cũng bầm tím vì những trận đòn. Từ trên cửu trùng, cậu Hai chỉ xuống dưới sân chầu, nơi hai tội nhân đang quỳ, hỏi to:
– Hai người kia tội gì?
Ông Lý- quan đại thần trong triều- tâu:
– Dạ thưa cậu Hai. Họ dám từ bỏ vương quốc của chúng ta trốn vào “đất liền”, tức là phản đạo, phản quốc.
.    Họ có phải là người chống lại quốc vương của cậu Hai đâu, chẳng qua đói quá, khổ quá mà phải trốn đi. Nhơn làm ở phòng tối của tổ nhiếp ảnh. Người sang du lịch bên cồn Phụng khá đông, tổ nhiếp ảnh phải làm việc cật lực để kịp giao ảnh cho khách. Nhơn làm việc trong môi trường độc hại, phải pha thuốc, tráng phim, rửa ảnh. Phòng tối nóng hầm hập vì trên là mái tôn, không có máy lạnh, người luôn đầm đìa mồ hôi, khát nước, cứ uống vào bao nhiêu, mồ hôi lại vã ra bấy nhiêu. Đến lúc được nghỉ, thường là đã khuya, người cứ mệt bã ra. Nhơn nghĩ, nếu không trốn khỏi đây thì sức mình không kham nổi một thời gian nữa. Trốn về “đất liền”, dù có bị bắt vào lính, chưa chắc đã chết ngay, còn ở đây sẽ cầm chắc cái chết. Nhơn đem chuyện này bàn với Mỹ- người anh yêu. Mỹ cũng đồng ý với anh. Cô cũng không khá hơn anh, hàng ngày phải chạy tới chạy lui chụp ảnh cho khách, không quản nắng nôi. Cư dân cồn Phụng đều tu theo đạo của cậu Hai, phải ăn chay trường, thực hiện theo ngũ giới cấm. Trai gái phải cách ly nhau, tối về không được gặp nhau mặc dù dãy nhà nữ cách dãy nhà nam chừng hai trăm mét. Những người lính của cậu Hai canh gác rất cẩn mật. Giao thông giữa cồn Phụng với “đất liền” chỉ có con tàu đò. Khách du lịch, cư dân cồn Phụng qua lại đều bị kiểm tra rất chặt chẽ. Nhơn bàn với Mỹ hẹn nhau bơi qua sông Tiền sang đất Bến Tre. Họ đã chuẩn bị rất kỹ. Mỹ mang theo một bọc quần áo nhỏ gọn.  Nhơn chỉ mặc áo thun, quần cộc. Lúc 0 giờ, hai người gặp nhau bên gốc cây bần quỳ, lợi dụng hướng gió thổi, bơi qua sông. Đêm đó, trời tối và lạnh. Nhơn dìu người yêu nhè nhẹ nương theo bờ lục bình thả trôi theo dòng nước. Nhưng họ mới bơi được khoảng hơn trăm thước bỗng nghe tiếng la ó, thấy ánh đèn pin quét loang loáng. Họ đã phát hiện ra có người đào thoát. Người ta dùng thuyền đuổi theo. Một người túm lấy tay Nhơn kéo lên thuyền. Mấy tên thanh niên lực lưỡng, đấm đá anh túi bụi làm Nhơn gục xuống mạn thuyền. Mỹ bị chúng kéo lên chiếc thuyền khác. Họ bị giam vào một chiếc phòng nhỏ chừng 5m vuông, phải nằm trên nền xi măng lạnh, chúng không cho Nhơn mặc quần áo nên phải cắn răng chịu lạnh qua đêm. Lúc quỳ dưới sân rồng liếc nhìn người yêu cũng tả tơi như mình, lòng Nhơn trào lên niềm căm phẫn tột độ. Chợt tiếng cậu Hai vang lên:
– Vì sao họ lại bỏ vương quốc của chúng ta mà trốn đi?
Cô Diệu Ứng quỳ dưới đất, dập đầu mấy cái rồi thưa:
– Thưa cậu Hai, vì cách quản lý của chúng ta quá khắc nghiệt. Bởi thế, họ phải từ bỏ vương quốc của chúng ta mà đi.
Ông đạo Dừa gõ gõ chiếc gậy 12 con giáp xuống đất, nói:
– Các ngươi thay mặt cậu Hai quản lý nền đạo sai hết cả, làm cho dân khổ như thế thì họ phải trốn đi, đó là lẽ tự nhiên. Các ngươi còn bắt người ta trở về, đánh đập. Lại còn nhốt người ta vào tù. Ai cho các người lập nhà tù? Vương quốc của chúng ta là vương quốc của đạo, của nhân ái, tại sao lại có nhà tù? Từ bây giờ phải phá bỏ các nhà tù. Phải làm sao cho thần dân của ta được hạnh phúc, được tự do, bình đẳng, nghe rõ chưa? – Giọng ông đạo Dừa bỗng trở nên đanh thép – Các ngươi đã làm trái với lý tưởng của ta. Các người có hiểu lý tưởng của ta là như thế nào không? – Ngừng một chút, ông đạo nhìn hết lượt đám quần thần rồi nói tiếp – Kiếp này chúng ta phải dọn mình cho thật thanh sạch, không làm điều ác, không sát sinh, ăn chay trường để cho tâm hồn luôn được thanh thản, nhẹ nhàng. Nghĩa là chúng ta tạo nghiệp để khi qua đời, linh hồn mới thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, mạng mới được vãng sanh cõi Tây Phương cực lạc.
Dưới sân chầu bỗng trở nên ồn ào, các quan hoạt bát hẳn lên. Họ có thể trao đổi với nhau những nhận định của mình. Ông Lý toát mồ hôi, dập đầu tạ tội. Ông Đạo Dừa tuyên bố:
– Các ngươi thả ngay hai người này. Cho họ về quê hương. Mang quần áo cho họ mặc. Hãy đối đãi tử tế và không được coi họ là những tội phạm.
Thoát được tù tội cũng nhờ Nhơn có chút may mắn. Mẹ Nhơn là em ruột vợ cậu Hai. Lúc phe ông Lý đang thắng thế, Nhơn không dám lộ thân phận của mình.
Nhưng bây giờ trong tù, muốn thoát chết chỉ còn cách cầu cứu dì ruột của mình. Nhưng làm sao báo tin cho dì biết? Ai giúp anh lúc này? Cũng may trong toán cai ngục, Nhơn nhận ra có một người bà con xa với anh. Lợi dụng lúc chỉ có hai người, Nhơn gọi anh ta lại gần, nói khẽ:
– Em là Tuấn, con dì Bảy đúng không? Anh là con dì Ba Ngân đây.
Gã cai ngục thấy có người nhận ra thân phận của mình thì tái mặt, nhưng trong lúc này anh ta không còn cách nào hơn là phải nghe Nhơn trình bày. Nhơn nói nhanh, anh cần báo tin về cho dì Hai Nga, vợ của cậu Hai biết anh đang bị giam cầm, chỉ có dì mới cứu được Nhơn thôi. Anh mượn bút ghi mấy dòng vào mảnh bao thuốc lá nhờ Tuấn chuyển về quê cho dì Hai. Người cai ngục phần vì tình cảm ruột rà, phần vì sợ Nhơn tiết lộ thân phận nên phải cố gắng giúp anh.
Vợ cậu Hai tên là Đỗ Thị Nga, có với cậu hai con, một trai một gái. Nhận được thư của Nhơn, bà Nga ngồi thừ ra trên ghế tâm trí rối bời, vẫn chưa biết phải làm cách nào để cứu được đứa cháu. Thấy mẹ có biểu hiện lạ, Loan Anh hỏi:
– Mẹ có gì lo lắng phải không?
Bà nói thật cho con nghe:
– Thằng Nhơn, con dì Sáu đang bị giam trong nhà tù ở cồn Phụng.
– Em nó có tội gì?
– Nó không chịu được cực khổ nên trốn về Bến Tre, bị chúng bắt lại chứ tội  gì.
– Thế ba có biết việc này không?
– Ổng không biết. Bây giờ làm sao cứu nó ra?
– Con nghĩ phe ông Lý không cho chúng ta sang cồn Phụng gặp ba đâu. Bây giờ chỉ có cách này…
Khuôn mặt bà Nga chợt giãn ra. Bà cười nói:
– Con báo tin này cho dì Sáu để dì cùng đi với mình. Gặp con, chắc dì mừng lắm.
– Chưa nên cho dì Sáu biết vội. Người mẹ vốn nặng tình cảm, không dằn lòng được dễ hỏng việc lớn.
– Ừ, con tỉnh táo khôn khéo hơn mẹ. Thôi, để xong việc rồi cho dì ấy hay sau.
Hai mẹ con bà Nga cải trang thành người du lịch sang cồn Phụng. Đây là lần thứ hai bà Nga sang cồn Phụng. Lần thứ nhất bà sang cồn Phụng lúc còn hoang vu, rất ít người ở. Cây ô rô, cóc kèn, sú bần, dừa nước… mọc hoang dại. Trên cành cây, tổ chim nhiều vô kể. Cứ chiều chiều, từng đàn cò, vạc và đủ các loại chim muông khác tụ tập về đây kêu inh ỏi. Không có ai săn bắt nên chúng sống tự do.
Bà có biết đâu một lần đi qua đây, chồng bà đã nhìn ra cái thế đất cồn Phụng. Ông cho rằng sông Mê Kông là một trong những con sông dài nhất thế giới, bắt nguồn từ Tây Tạng. Khi chảy về Việt Nam, nó tạo ra bốn chiếc cồn đủ tứ linh Long, Ly, Quy, Phụng. Trong đó cồn Phụng to nhất. Người ta thường chọn  đất tu đạo có phong thủy, địa lý linh thiêng mới thu hút được bá tánh đến với đạo. Đạo cốt ở niềm tin và tín đồ. Càng có nhiều tín đồ thì đạo càng vững chắc, có thể mặc cả được với thế quyền. Rồi ông đạo Dừa cho kéo chiếc thuyền Bát Nhã, giống như thuyền rồng của nhà vua từ sông Ba Lai về, xây bát quái đài cao 18m. Ngày đêm ông ngồi tịnh trên đó. Hồi đó, chính quyền Sài Gòn bắt lính rất gắt, những người sợ ra trận bèn trốn sang cồn Phụng gia nhập đạo Dừa. Chẳng bao lâu, cồn Phụng có gần nửa triệu dân. Ông đạo Dừa có hẳn một đất nước với mật độ dân số đông nhất toàn cầu. Cậu Hai thực sự là vua rồi! Lần đó nhớ chồng, bà dắt theo con gái Loan Anh sang cồn Phụng. Nhưng mới đến nhà khách thì bị ông Lý thuyết cho một hồi:
– Cậu Hai đã bỏ ra bao nhiêu năm trời tầm sư học đạo, nay đã thành Phật. Cậu là người của muôn nhà. Bà nên vì cậu Hai, vì bổn đạo mà quên tình riêng để cậu Hai thực hiện được ý nguyện của Người.
Nghe ông Lý nói vậy nên bà nguôi ngoai phần nào, nghĩ rằng ông Lý vì chồng mình, vì bổn đạo mà khuyên mình đành ngậm ngùi dắt con trở về. Sau này nghe tin ông Lý làm nhiều việc xằng bậy, có nhà cửa nguy nga. Ông ta tu như thế còn hơn tiên. Chỉ có chồng mình là thiệt thà, ngây thơ nên khổ. Bây giờ cồn Phụng thật tráng lệ, đúng như một vương quốc riêng. Ôi chồng mình đã là vua mà mình và con gái vẫn nghèo hèn! Ai đã gây nên nên nông nỗi này? Bà Nga thấy nghèn nghẹn nơi ngực trái.
– Mẹ cứ ngồi ở quán nước này nghỉ ngơi. Con sẽ có cách giúp mẹ. Mẹ nhớ cứ đeo khăn che mặt. Đừng cho ai nhìn ra mẹ nghe.
Loan Anh dặn mẹ rồi hòa vào dòng người tấp nập. Việc đầu tiên cô làm là bắt liên lạc với Tuấn- người cai Ngục mà Nhơn đã nhờ vả. Cô kéo Tuấn ra chỗ vắng, nói:
– Em có nhận ra chị không? Chị Ba con dì Hai đây. Hôm trước, mẹ chị nhận được thư của Nhơn do em chuyển về…
Tuấn tỏ ra sợ sệt:
– Chị đừng sang đây. Nguy hiểm lắm.
– Chị biết rồi. Bọn phe ông Lý chứ gì. Bây giờ em tìm cách báo cho cô Diệu Ứng biết mẹ con chị đang chờ cô ấy ở quán nước dưới cây bần quỳ ngoài bờ sông nhé.
Hai người trao đổi nhanh với nhau rồi Loan Anh lại lẫn vào dòng người đi tham quan. Mấy giờ sau, Diệu Ứng đến. Bà Nga hé lộ khăn che mặt cho Diệu Ứng nhận ra rồi nói:
– Cô giúp tôi gặp được ông ấy. Có việc gấp lắm.
Diệu Ứng hiểu. Đã lâu lắm rồi bà Nga chưa sang cồn Phụng gặp chồng. Bà đã bỏ mặc cho ông đi tu. Bây giờ mợ ấy đến gặp chồng chắc chẳng phải chuyện tình cảm thông thường. Nhưng đưa một người đàn bà vào chốn cung đình gặp cậu Hai không phải chuyện dễ. Quân lính sẽ báo với ông Lý- người đang nắm quyền sinh sát ở cái vương quốc này. Ổng sẽ cản. Bây giờ làm sao đây? Mà nói thiệt chuyện này với cậu Hai chưa chắc cậu sẽ ra gặp mợ. Cậu cũng đã nói, cậu phải cố quên tình riêng lo nghiệp lớn đó sao? Sực nhớ ra một việc, Diệu Ứng tức tốc sai người đi làm ngay. Sau đó, cô bước vào trong điện gặp cậu Hai.
Lúc này ông dạo Dừa đang ngồi kiết già. Chờ cho ông xả thiền, Diệu Ứng mới quỳ xuống thưa chuyện:
– Thưa cậu Hai. Có ông Nguyễn Văn Phương, quê ở Hốc Môn, lúc hạ cây gáo chẻ củi thấy có chữ NAM, nay mang sang tặng cậu Hai.
Nghe đến chuyện kỳ lạ, mặt cậu Hai linh hoạt hẳn lên. Cậu nhanh nhẩu:
– Họ ở đâu? Mau đưa họ đến đây.
– Nhưng ổng dặn, điều này rất linh thiêng huyền bí, cậu không được cho ai biết, chỉ đệ tử và cậu Hai được biết mà thôi. Ổng đang ngồi ở bờ sông chờ cậu.
Cậu Hai đang nóng lòng, nên đáp ngay:
– Được. Diệu Ứng dẫn cậu đi.
Nói rồi, ông đạo khoác vội chiếc áo bốn lỗ, đi chân đất cùng Diệu Ứng bước ra khỏi điện. Quả nhiên, quân lính vội dọn đường. Cậu Hai nói với quan nội điện:
– Cậu đi việc linh thiêng. Các ngươi không được đi theo. Gậy 12 con giáp của cậu đây. Diệu Ứng cầm lấy mở đường. Ai sai sẽ bị trị tội.
Quân lính dạ ran. Diệu Ứng cầm gậy như thượng phương bảo kiếm đi trước, cậu Hai chầm chậm theo sau. Bảo vệ cậu Hai lúc này chỉ có người của Diệu Ứng.
Cậu Hai thấy có ba người đang quỳ dưới gốc cây, một người đàn ông chừng 50 tuổi, một cô gái trẻ và một người đàn bà che kín mặt bằng chiếc khăn màu xanh. Đó là gia đình vợ chồng con cái chăng? Người của Diệu Ứng liền tạo ngay thành vòng rào không cho những người khác tiếp cận cậu Hai. Người ta vội mang ghế cho cậu Hai ngồi. Người đàn ông đánh lễ trước cậu Hai, lên tiếng:
– Thưa cậu Hai. Trong lúc cưa cây gáo, đệ tử thấy có điềm lạ nên mang nó lên đây biếu cậu Hai thưởng lãm.
Người đàn bà bịt mặt mở gói đồ. Đó là một phần cây gáo bị xẻ dọc. Những đường vân ngẫu nhiên tạo thành hình chữ NAM thật kỳ lạ. Nam rất thích những kiểu lạ kỳ như thế. Như lần anh Nguyễn Văn Hiếu ở Cà Mau mang lên tặng cậu Hai trái dừa 7 cánh ốp lại giống như bông sen đang nở, hay 3 trái dừa lột ra đều hả miệng do một đạo hữu ở Long An mang đến biếu. Nhưng món quà lần này kỳ lạ hơn. Nó tôn tên tuổi của ông lên làm ông đạo Dừa vô cùng thích thú. Để giải trí tò mò, ông Phương chợt hỏi:
– Thưa cậu Hai, cậu Hai để mái tóc dài trên hai mét? Cậu không tắm gội, có bị ngứa ngáy không?
Cậu Hai cười thật hiền gỡ búi tóc trên đầu xuống, xõa ra cho đệ tử xem, nói tiếp:
– Từ ngày đi tu, cậu không cắt, cũng không gội. Nếu có ngứa thì lấy que gãi gãi.
– Thưa cậu Hai. Nghe nói cậu không ăn cơm, chỉ ăn trái cây và uống nước dừa Xiêm, 24 tiếng mới độ một lần vào giờ Ngọ là có ý nghĩa gì?
– Cậu không ăn cơm vì nếu nấu chín sẽ chết những con vi khuẩn, vi trùng. Như vậy là phạm vào tội sát sanh. Như cậu không đi dày dép cũng là để không dẫm vào các con vật dù nó bé nhỏ nhưng đều có linh hồn.
Ông Phương thốt lên đầy cảm phục:
– Ôi, sư tổ đạo hạnh đến nỗi không muốn làm đau đến muôn loài, dù chúng là vi khuẩn, vi trùng. Sư tổ làm vua nước cồn Phụng này thì thật phúc đức cho muôn nhà.
Thấy câu chuyện có thể kết thúc được rồi nên Diệu Ứng ra hiệu cho ông Phương rút lui. Ông đạo Dừa ngạc nhiên khi hai người đàn bà vẫn đang quỳ dưới đất. Chợt người đàn bà mở tấm khăn che mặt làm ông đạo bàng hoàng.
– Đây là con gái Loan Anh của chúng ta. – Bà Nga lên tiếng trước.
Nghe mẹ nói, cô gái nhanh nhảu:
– Con chào ba.
.     Ôi, con gái của mình đó ư? Ngày mình bước khỏi nhà đi tu, nó mới lẫm chẫm tập đi. Nó thương cha lắm. Hai cha con luôn quấn quýt bên nhau. Lúc Nam đi nó còn ngủ say trong giường. Nam nhìn con nước mắt rưng rưng, thiếu chút nữa Nam đã bỏ túi xách xuống đất ôm chầm lấy con mà nói:” Con gái của ba. Ba không đi đâu hết, ba ở nhà với con”. Vậy mà giờ đây nó đã thành một thiếu nữ xinh đẹp, giống hệt mẹ nó ngày nào. Nhìn vào khôn mặt vợ, Nam càng xúc động, nàng đen và gầy quá, tóc đã bạc hết cả rồi. Ngày mình đi nàng mới ngoài ba mươi tuổi, làn da trắng trẻo, bộ ngực căng cứng …Đời nàng thế là quá khổ, lúc hai đứa con bị sốt xuất huyết, một mình nàng lo không xuể, thằng Nguyễn Thái Sơn đã không qua khỏi. Nếu có mình ở nhà đỡ đần thì thằng Sơn đâu có thể vĩnh biệt cha mẹ sớm như thế. Thôi nàng hãy tha lỗi cho ta.  Đức Phật thuở xưa muốn cứu nhân loại thoát khỏi trầm luân của kiếp người cũng phải từ biệt vợ con mà ra đi. Hẳn lúc chia tay, đức Phật cũng đau lòng lắm. Hồi lâu Nam mới thốt nên lời:
-Bà và con có khỏe không?
– Tôi và con đều khỏe -Giọng bà Nga nghèn nghẹn, bà cố gắng dằn cơn xúc động- Hôm nay tôi sang đây muốn nói với ông hai việc: Thứ nhất là dì Sáu có thằng con trai chỉ vì không chịu được khổ cực bên cồn Phụng mà cùng người yêu lội qua sông trốn sang Bến Tre. Chúng nó bị quân của ông bắt, ở trong tù. Ông thương tình hãy thả nó ra. Dì Sáu chỉ còn đứa con trai độc nhất. Tội nghiệp dì và các cháu. Việc thứ hai là ông đã để cho ông Lý qua mặt, lợi dụng đạo của ông để vơ vét làm giàu. Bên Mõ Cày, Bình Đại, ông ta có đến ba dinh thự, cho ba bà vợ khác nhau. Đất đai của ông ấy có hàng ngàn mẫu. Còn ông, quá thật thà, chỉ biết tu hành, không nỡ làm hại đến con vi trùng tội nghiệp. Nhưng đám quan lại của ông đang làm gì, ông có biết không? Chúng là giặc nội xâm đó.
Ông đạo Dừa ngồi lặng đi, một lúc ông mới cất nên lời:
– Thôi, bà và con cứ về đi, tôi sẽ có cách lập lại trật tự. Còn thằng cháu, bà cứ chờ nó bên kia bến đò. Nội trưa mai bà sẽ thấy mặt chúng.
.     Trong phiên chầu, ông Lý vô cùng ngạc nhiên vì thái độ của cậu Hai có vẻ nóng nảy. Vì sao cậu Hai biết có Nhơn và Mỹ đang bị giam để đưa họ ra xét xử? Ông bỏ công đi điều tra và hiểu ra tất cả. Đúng là đàn bà nguy hiểm thật. chẳng thế mà tổ tông loài người, ông Ađam đã nghe lời Eva mà phạm tội. Ông đã lường trước mọi việc, cấm hẳn dòng họ bên vợ cậu Hai sang cồn Phụng. Vậy mà ông mới đi vắng có một ngày, ở cồn Phụng đã đảo lộn tất cả. Nguy quá! Trong vụ này có cả bàn tay của Diệu Ứng nữa. Ông đã nhìn thấy mối nguy hại từ Diệu Ứng. Nhưng vì cậu Hai đang tín nhiệm bà ta, và cũng công nhận bà ta rất thông minh, đã bao lần cứu được cậu Hai khỏi nguy hiểm. Được cái bà ta chỉ đi tu theo cậu Hai, không ham hố gì nên ta để yên. Nếu bà ta cứ xen vào chuyện tai hại như thế này thì sẽ có lúc ta phải ra tay. Còn phá bỏ nhà tù ư? Có quốc gia nào trên trái đất mà không có nhà tù? Quản lý xã hội phải có luật pháp nghiêm minh. Ai có công thì được khen thưởng, ai có tội thì phải bị trừng trị theo pháp luật mới có thể răn đe người khác. Ai quản lý đất nước mà chỉ bằng nhân ái? Ta phải học Hàn Phi Tử bên Tàu xưa, dùng pháp trị. Nghệ thuật trị nước là phải biết dùng thế, dùng thuật, dùng luật một cách nghiêm minh.
.    Ông Lý là người có học, lại chịu khó đọc sách, nghiên cứu sâu nghệ thuật chính trị.Vì thế ông hơn hẳn các đệ tử khác của ông đạo Dừa ở cơ mưu. Tiếc rằng ông là người gian hùng, là kiếp nạn của muôn nhà. Ông dần dần tiếm quyền trong triều đình của cậu Hai, toàn quyền sắp xếp nhân sự các bộ. Bởi vậy, bao nhiêu của cải, tiền bạc của đất nước cứ chảy vào túi gia đình và phe nhóm của ông. Có vẻ như ông đạo Dừa đã được ai cảnh tỉnh, sẽ lập lại trật tự quốc gia chăng? Không dễ thế đâu. Vắng ông, vương quốc cồn Phụng sẽ loạn, chưa kể còn lâu mới phế truất được ông vì lực lượng của ông cài cắm trong triều đình quá mạnh. Ai có đủ gan làm được điều đó? Mãi đến chiều, khi cậu Hai ngồi vào phi thuyền phía thành phố Sài Gòn bay vút lên cung trăng và ngồi thiền trên đó, đầu óc giao cảm với cõi vô hình, thì ông Lý mới thôi ấm ức. Ông ta chợt cười ruồi.
– Kể ra lý tưởng của cậu Hai cũng được đấy, biết hướng con người đến những giá trị nhân văn. Vì sao vương quốc của ông đạo Dừa lại trở thành phế tích như thế này, thưa cha? – Mỹ Lan chợt nói cắt ngang dòng hồi tưởng của ông Nhơn. Ông giật mình, vội trả lời con gái:
– Sau ngày đất nước hòa bình, người ta không còn sợ bị bắt lính nữa, hồ hởi trở về nhà. Chỉ một thời gian ngắn, cồn Phụng còn trơ lại triều đình của cậu Hai. Vua không dân đâu còn là vua.
Cậu Hai trở về xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre sống chung với gia đình cô Diệu Ứng. Nhớ lại những lần ông cùng đoàn tùy tùng trốn qua Campuchia rồi từ đó bay ra Hà Nội gặp Cụ Hồ để bàn với Cụ cho ông đứng ra làm trung gian hòa giải, mở hội nghị bốn bên ở cồn Phụng nhằm vãn hồi hòa bình cho Việt Nam, bị chính quyền Nam Vang bắt giam. Hay lần ông ra tranh cử tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu, bị chính quyền Sài Gòn tống vào nhà thương điên… Diệu Ứng đều dùng tài của mình cứu được ông ra. Ờ, Diệu Ứng mới đúng là trung thần. Một lần cậu Hai nói với Diệu Ứng:
– Này, Diệu Ứng. Tại sao cũng là đạo do người Việt mình dựng nên như đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, họ vẫn tồn tại đến hôm nay, còn đạo của chúng ta lại bị tan vỡ?
– Thưa cậu Hai. Đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… có hội đồng chưởng quản, có đại hội nhơn sanh… Nghĩa là họ có tổ chức gần giống như quốc hội. Họ đã biết đưa đạo của mình đến gần với đời. Cậu  thấy đó, dân tự bỏ chúng ta mà đi chứ chính quyền có ép họ đi đâu.
Ông đạo Dừa ngồi thừ ra bên thềm nhà nhìn  xa xôi. Ông bỗng nhớ về người vợ của mình. Tội nghiệp nàng! Mình đã bỏ nàng nửa chừng xuân, trút gánh nặng cuộc đời lên đôi vai yếu đối của nàng. Vậy mà lần gặp nhau ở cồn Phụng năm xưa, nàng không hề trách móc mình, chỉ nói một câu cảnh báo, suy cho cùng cũng là lo lắng cho mình. Ôi,  trái tim người vợ – Đó mới là cái quý nhất trên đời, nhưng buồn thay mình đã để mất nó từ lâu rồi!
Buổi chiều, ông Nhơn dẫn Mỹ Lan sang sông viếng mộ ông đạo Dừa cách cồn Phụng không xa. Từ đường chân trời, Mỹ Lan chợt thấy những đám mây màu chì, hình nấm đang từ từ đùn lên, mỗi lúc một dâng cao như báo hiệu điềm gì đó sắp xảy ra. Không gian yên ắng. Ánh tà dương chầm chậm buông màn trên sông Ba Lai, trên hàng cây xanh đậm ven bờ, trên rừng dừa bát ngát tàu lá chen nhau che kín bầu trời, làm cho khu lăng mộ ông đạo Dừa chợt trở nên tối sầm, buồn hiu hắt. Tuy vậy, Mỹ Lan vẫn nhìn rõ dòng chữ gắn trước khu lăng mộ như bảng hiệu một công sở:
KIM TINH THÁI/THÍCH HÒA BÌNH/NAM NGUYỄN THÀNH
.    Khu lăng mộ hình vuông, mỗi cạnh 46m, bên trong lại chia làm 4 khu vuông vức theo hình chữ ĐIỀN (Chữ Hán) hợp với câu thơ trong sấm Trạng Trình do Nam chế thêm: Phá điền thiên tử xuất/ Bất chiến tự nhiên thành. Một đường hào bao quanh khu lăng mộ, rộng khoảng 3m trồng sen. Lá sen đã phủ kín mặt nước. Những bông sen trắng, hồng vươn lên, đưa hương thoang thoảng. Khu lăng mộ ngoảnh mặt ra sông Ba Lai, hướng Đông. Trong khu lăng mộ, người ta trồng rất nhiều cây kiểng như cây đại, cây tùng… Theo trục chính từ cổng hướng Đông đi vào, Mỹ Lan nhìn thấy một hình hộp ba cạnh cao sừng sững. Chiếc hộp ấy dựng trên mặt phẳng hình hà đồ trong kinh dịch với ý nghĩa: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh vô lượng. Hồi ông đạo Dừa còn tại thế, Ông Lý đã cho thiết kế toàn bộ khu lăng mộ theo hà đồ. Lúc ông đạo viên tịch, họ đưa thi thể ông về đây, cẩu chiếc hòm lên, dựng vào hộp ba cạnh rồi gắn xi măng lại. Người ta dòng một sợi dây nối từ đáy quan tài của ông đạo Dừa ra chiếc hố đã chôn kín để rút nước, kỳ lạ thay nhiều năm rồi chiếc hố vẫn khô queo. Mỹ Lan cứ mãi ngước nhìn lên cái hộp ba cạnh có thi hài ông đạo Dừa đứng trên Bát Quái, mặt phẳng đắp nổi hình bản đồ Việt Nam đủ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang bị ánh tà dương bủa vây với nhiều suy tư.
Một trận gió bất ngờ từ hướng bờ sông Ba Lai ào ào thổi đến, cây cối nghiêng ngả, bụi cuốn lá cây bay mù mịt. Những tia chớp sáng chói rạch những đường hình chân chim như xé toạc bầu trời đen kịt. Ông Nhơn vội kéo con nấp dưới mái che khu lăng mộ.
– Ông đạo Dừa đứng như chúa Jesus tuẫn nạn trên cây thập giá – Cô gái thốt lên giữa tiếng sét chói tai ngay trên đỉnh đầu làm ông Nhơn bừng tỉnh.

.                                                            NGUYỄN TRƯỜNG

______________________________________

.                            MÙA THANH LONG

.                          Truyện ngắn của Nguyễn Trường

Trời chưa hửng sáng, cây cối trong vườn vẫn một màu đen thẫm gà gật trong cơn ngái ngủ. Không gian yên ắng, thi thoảng tiếng gà gáy xa xa vọng lại. Chị Sáu đã dậy lục đục chuẩn bị dụng cụ đi làm. Chị mặc áo tránh nắng màu nâu, bạc loang lổ, chiếc quần màu phèn mà thường ngày chị vẫn mặc khi ra đồng, tay cầm chai thuốc đã pha sẵn, co ro bước ra cổng trong tiết trời lành lạnh. Trước mắt chị là cánh đồng thanh long sáng rực như sao sa. Người ta đang xông đèn, ép cho cây thanh long ra hoa trái vụ, bởi mùa này thanh long có giá cao hơn. Thường thanh long ra hoa kết trái vào mùa mưa, nhưng vào chính vụ trái thanh long có giá rất thấp. Thậm chí, vào chính vụ, cây thanh long tự ra hoa, người ta còn ngắt chúng đi để dưỡng sức cho cây vào mùa khô- mùa trái vụ, dù phải tốn công, tốn tiền điện không ít. Bây giờ đang mùa thanh long trái vụ, cả cánh đồng xã Thanh Phú rực rỡ như một thành phố, đèn điện lấp lánh đến tận chân trời.

Có lẽ chị Sáu không ngủ được nên ra đồng sớm, cũng có thể chị đi làm sớm để tránh cái nắng gay gắt lúc gần trưa. Vườn thanh long nhà chị rộng chừng một hecta, của ba chị em góp vốn, thuê đất cùng làm. Sáu là em gái dưới hai chị, cũng là áp út.

Sáu nhìn một lượt khắp khu vườn của mình, những bụi thanh long ngay hàng thẳng lối, cành nhánh xanh đậm, rủ cong xuống như những nhành phong lan. Mỗi bụi thanh long người ta tuyển lại khoảng 15 trái to và đẹp nhất. Lúc này trái thanh long trong vườn chị mới lớn bằng nắm tay, vẫn còn xanh. Khi nào những chiếc khe quanh trái ưng ửng màu đỏ là bắt đầu chín. Chị Sáu nhè nhẹ bước vào hàng thanh long thứ nhất, rút từ trong túi ba chiếc găng tay, tròng từng cái một,  vào bàn tay phải, bắt đầu là găng bằng len, để nó không hầm bàn tay, lớp thứ hai loại găng tay y tế, để thuốc không ngấm vào da gây nguy hiểm, lớp ngoài cùng lại bằng len để giữ thuốc. Chị đeo chai thuốc vào cổ tay trái, tay phải cầm miệng chai lắc lắc, xịt thuốc ra đầu ngón tay rồi vuốt vuốt lên những cánh bọc quanh trái thanh long, mà bà con quen gọi là cái ngoe, bắt đầu từ 3 ngoe trên cùng, bên ngoài, vuốt dần vào những ngoe nằm gần cuối trái. Người ta trồng thanh long ngay hàng thẳng lối, một công trồng được 140 bụi, khoảng cách 2,6m x 2,6m một bụi. Người ta dùng cọc bê tông cao 1,7m, chôn xuống đất chừng nửa mét, lại chọn những cành thanh long đẹp cắm quanh trụ, bốn góc bốn cành rồi cột chúng vào trụ bê tông. Thanh long tự ra rễ, lớn lên, bò ôm lấy trụ, xòe nhánh ra xung quanh. Nhà vườn tuyển những nhánh to đậm, khỏe mạnh và cắt đi những nhánh còi cọc, xấu xí. Sau gần hai năm thanh long sẽ ra nụ, đơm hoa, kết trái. Đây là loại thanh long vỏ mỏng, ruột đỏ, ngọt lịm, xuất khẩu sang Trung Quốc là chủ yếu. Người Trung Quốc thích màu đỏ vì quan niệm đó là màu may mắn, hạnh phúc. Người Trung Quốc chuộng trái thanh long chín đỏ nhưng ngoe hãy còn xanh, vẻ như trái mới chín cây, còn tươi nguyên. Cũng vì vậy, người Trung Quốc lại sản xuất ra thứ thuốc bôi vào ngoe làm cho chúng luôn giữ được màu xanh. Quá trình chăm sóc thanh long thì khâu vuốt ngoe là một trong những khâu  tốn nhiều công sức nhất, chỉ để cho trái thanh long nhìn bắt mắt. Chị Sáu vuốt những ngoe thanh long ở chỗ thấp rồi vuốt dần lên những trái ở tầng cao, nhiều lúc gai thanh long đâm vào cánh tay đau nhói. Chị cứ âm thầm làm, quên cả thời gian. Trời  sáng từ bao giờ và người ta đã tắt điện xông thanh long từ lúc nào chị cũng không hay biết. Chợt có tiếng người đàn ông gọi:

– Sáu ơi, Sáu ơi!

Chị Sáu ngước lên nhìn ra đầu cộ, rồi cất tiếng:

– Em đây, anh Năm đấy hả?

Người đàn ông khoảng ngoài 60 tuổi, dáng thấp bé, lúi cúi cầm chai thuốc xăng xái bước đến. Ông mặc chiếc áo cộc tay đã ngả màu vàng, dính loang lỗ nhựa cây, chiếc quần dài đến đầu gối cũng một màu với chiếc áo. Da ông sạm nắng, có cảm tưởng nắng mưa khó làm ông đen thêm được nữa. Ông cất giọng khàn khàn:

– Sáu đi làm sớm thật, đã vuốt được mấy chục bụi rồi à?

Sáu đáp to:

– Làm sớm cho mát. Hôm nay chị Năm không đi làm à?

– Ối trời, bà ấy lại đi làm mướn cho người ta rồi.

– Khổ thật, ruộng nhà mình làm không kịp mà lại đi làm mướn cho người khác.

Rồi chị đứng thẳng người nhìn ông Năm nói:

– Chị đi làm mướn chỉ để kiếm ít tiền cho thằng Hải, thằng Sơn. Sao mà khổ thế, có ai trên đời này khổ như vậy không? Mẹ đã ngoài 60 tuổi, gầy yếu, đi đứng không vững mà còn phải làm mướn để nuôi hai thằng con trai sức dài vai rộng.

Ông Năm thở dài:

– Nhà tôi vô phước, có hai đứa con trai thì hỏng cả hai, chúng lớn rồi, đâu thể cầm roi mà đánh.

– Tại anh chị không rèn dạy chúng từ nhỏ, phải uốn nắn từ lúc nó còn như búp măng, giờ đã thành tre rồi…

– Anh chị cũng biết vậy.

Nói rồi người đàn ông cầm chai thuốc đi sang bụi xa hơn làm việc, cũng là để cắt đứt câu chuyện với người em vợ đến hồi khó nói.

Thấy anh rể lảng đi, chị Sáu lại lúi húi làm việc. Nghĩ đến cảnh chị mình đã già yếu vẫn phải đi làm mướn cho người khác mà ứa nước mắt. Đi làm mướn phải gắng hết sức mình, phải theo kịp người trẻ, mới đáng đồng tiền của chủ. Bà Năm lại bị bệnh huyết áp cao, sau giờ làm, thường nằm vật ra bờ ruộng, tim đập nhanh, mắt hoa lên, cảnh vật chao đảo… Chủ trả công cho bà mỗi ngày 200 ngàn đồng và bữa ăn trưa, nhưng bà tiếc tiền nên về ăn cơm nguội để có thêm 15 ngàn đồng. Đến cuối tuần, hai thằng con trai đi chơi ở đâu đó về xòe tay xin tiền, bà lại dốc tất cả số tiền kiếm được cho chúng. Cũng có bữa bà rầy la chúng:

– Tụi bây là con trai, thanh niên phải đi kiếm việc mà làm, sao cứ xin tiền mẹ mãi vậy.

Thằng con trai lớn vừa cười cười vừa gãi đầu:

– Tụi con cũng đi xin việc, nhưng chẳng nơi nào nhận.

Bà Năm chỉ ra ngoài ruộng:

– Tụi bay đi làm mướn với tao, mỗi ngày cũng kiếm được 200 ngàn đồng mỗi đứa.

Hai thằng thè lưỡi rụt cổ, trả lời mẹ rồi lảng đi chỗ khác:

– Chúng con không quen làm việc dưới quê.

Chúng nó nói thật, trước đây bà Năm có căn nhà lầu ở quận Tư, Sài Gòn. Chồng bà, vốn là thợ bạc khá nổi tiếng. Nhà có tủ bán vàng, trong nhà lúc nào cũng có ba bốn người thợ đến học nghề. Mỗi người vào học phải đóng phí 5 chỉ vàng, nên bà Năm cũng sung sướng lắm, vàng đeo đầy người. Còn hai thằng con thì ra dáng công tử con nhà giàu, chỉ biết ăn chơi lêu lổng. Nhưng càng về sau nghề thợ bạc càng ế vì người ta đã chế ra máy làm dây chuyền, ép nhẫn… học trò không còn đến học nghề như trước nữa. Ông Năm cũng không còn việc để làm. Ông lại quen với lối sống thoải mái, bạn bè đông đúc nên số vốn còn lại chẳng mấy bữa đã bay biến mất.

Ông Năm có người bạn thân tên Quý, luôn miệng nói rằng hồi anh ta thất nghiệp, nhờ ông Năm cho mượn 5 chỉ vàng nên có vốn làm ăn và khá lên dần. Bây giờ anh ta giàu có, mua được nhiều ruộng đất, ngỏ ý muốn trả ơn ông Năm nên bán cho ông một mảnh đất hơn 2000 m2 ở xã Phước Điển, huyện Nhà Bè với giá rẻ. Thời ấy, giá đất đang sốt, cứ mua đất hôm trước, hôm sau giá đã cao hơn. Ông Năm mua được đất mừng lắm, về khoe với mọi người. Chị Sáu hỏi ông:

– Vậy giấy tờ mua đất đâu?

Ông Năm rút ra tờ giấy bằng bàn tay, chữ viết ngoằn ngoèo, chẳng có dấu má và chữ kí xác thực của địa phương, của công chứng. Chị Sáu la lên:

– Anh mua bán như thế này à. Anh trả tiền cho họ bao nhiêu rồi?

Ông Năm nói trong hơi men:

– Anh bán ngôi nhà này, được 80 lượng vàng và lấy tiền đó mua đất. Ngôi nhà này chỉ có 100m2, sắp tới ta có 2000 m2 nhé.

Chị Sáu tròn mắt:

– Anh bán ngôi nhà này cho ai? Đã làm giấy tờ chưa?

Ông Năm gật gù:

– Bán rồi, ký giấy tờ rồi, bán cho bạn ông Quý.

Chị Sáu chỉ biết kêu trời:

– Anh bị lừa rồi, anh mua đất mà không biết làm thủ tục giấy tờ, cũng chẳng bàn với em, để em tham mưu cho anh.

Ông Năm đang trong cơn say quát to:

– Nhà của tao, tiền của tao, tao làm ra thì tao mua, tao bán, việc gì phải hỏi mày?

Chị Sáu thấy anh rể say, lớn tiếng đành im lặng. Ngày hôm sau ông Năm tỉnh rượu, nhận ra sai lầm của mình. Ông lại phải nhờ cậy chị Sáu gỡ thế bí. Chị Sáu đến gặp người bán đất, yêu cầu cho xem giấy chủ quyền và làm lại giấy tờ cho hợp pháp. Nhưng hỡi ôi, người bán đất chỉ có tờ giấy photocopy, sổ đỏ đứng tên của người khác! Nghĩa là người chủ đất chỉ nhờ Quý làm cò. Chị Sáu làm đơn kiện ra tòa án, tòa phán rằng, đây là tranh chấp đất đai, phải được địa phương có mảnh đất đó hòa giải, nếu hòa giải không thành thì tòa mới xử. Chị Sáu lại đến xã Phước Điển, nhờ địa phương hòa giải. Nhưng địa phương lại nói: Ông Quý không phải là người ở địa phương, cũng không có quyền sử dụng mảnh đất đó nên địa phương không có trách nhiệm mời họ đến hòa giải.

Sáu lại kiện ra công an phường, nhưng công an lại nói, đây là hành vi tranh chấp dân sự, là việc của bên tòa án. Cứ thế các bên đá qua đá lại làm Sáu bỏ cả năm trời đi kiện mà vẫn không thu được kết quả gì. Ông Năm mất nhà, mất tiền, nợ nần chồng chất, cha con phải bỏ thành phố về quê sinh sống.

Trong số anh chị em nhà bà Năm thì Sáu là người thương chị Năm nhất. Hồi ông Năm làm thợ bạc trên Sài Gòn chị cũng lên học nghề và là người giao hàng rất đắc lực, rất tận tụy của ông bà Năm. Khi thợ làm xong những chiếc dây chuyền, những chiếc lắc… thì chị Sáu mang lên các tiệm vàng trong thành phố gửi họ bán giùm. Sau một tuần, chị lại tới các tiệm vàng, gom tiền về giao đầy đủ cho ông bà Năm. Hình như, tất cả tâm trí của chị đều dồn cho gia đình ông bà Năm, làm sao cho họ hạnh phúc, làm sao cho họ đủ ăn, làm sao cho họ không bị phá sản… Cho đến khi vợ chồng ông Năm kéo nhau về quê, chị cũng theo về với họ. Chị Sáu thương bà Năm, thương các cháu như con đẻ của mình. Mọi người đều cho rằng, thằng Hải đã hư hỏng không còn dạy bảo được nữa nhưng chị Sáu vẫn tin là nếu Hải được chị giúp đỡ sẽ nên người. Chị bàn với vợ chồng ông Năm, cho Hải đi học bổ túc văn hóa, để thi vào đại học, chỉ có con đường học vấn mới có thể kéo cậu ta ra khỏi vũng lầy tội lỗi.

Bà Hai, người trên bà Năm hai bậc, lắc đầu nói:

– Tao không tin thằng đó có thể giáo dục nên người. Hồi ở thành phố, nhà tao nuôi mẹ con nó mấy năm trời, thế mà nó mượn chiếc xe máy của chồng tao chỉ một buổi trở về đã thay gần như toàn bộ phụ tùng xịn bằng phụ tùng dởm của Trung Quốc.

Chị Sáu cãi:

– Lúc đó nó còn nhỏ, mới 14, 15 tuổi, suy nghĩ chưa chín chắn. Vả lại con người ta khác nhau ở sự giáo dục. Các chị cứ cho cháu đi học. Em đảm bảo là cháu sẽ nên người.

Chị Sáu thực thi quyết tâm của mình bằng cách, hàng ngày chở Hải đến trường bổ túc văn hóa, cách nhà chừng 10 cây số, giờ tan học lại đến đón cháu về. Chị kèm cậu ta rất sát, không để Hải có thời gian đàn đúm, chơi bời. Hải khá thông minh, tiếp thu kiến thức ở trường là chính, về nhà ít khi thấy cậu nhìn vào sách vở, vậy mà năm nào cũng được lên lớp. Hải tốt nghiệp bổ túc văn hóa rồi thi đậu vào đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Khỏi phải nói, vợ chồng ông Năm vui mừng thế nào. Ông mở tiệc mời bà con làng xóm tới chia vui. Người mừng nhất là chị Sáu, mặt rạng rỡ, trông trẻ lại đến dăm sáu tuổi.

Lên thành phố trọ học, Hải thoát khỏi sự kèm cặp của dì Sáu, như chim sổ lồng. Hải gặp lại đám bạn bè hư hỏng trên thành phố một thời của mình. Hơn một năm sau, gia đình ông Năm mới biết Hải nghiện “đập đá”, bỏ học liên miên, nợ môn chồng chất. Cậu lại lang thang như cái ngày đang học lớp 9 rồi bỏ học. Người thất vọng nhất là chị Sáu, bao nhiêu công sức, tiền bạc, hy vọng vào thằng cháu đã tan thành hư ảo.

Chị Sáu lại nhớ cách đây hơn hai năm, thằng Sơn nhậu say với bạn bè rồi mượn xe máy phóng bạt mạng trên đường, đụng vào một bà già làm bà gẫy chân tay và mấy cái xương sườn, phải đưa lên bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Bà đã 80 tuổi, sức yếu, bị thương nặng nên không qua khỏi. Gia đình nạn nhân gom đơn thuốc và hóa đơn nằm viện của bà  lên đến gần trăm triệu đồng, bắt gia đình ông Năm phải trả. Họ yêu cầu gia đình ông Năm phải trả tiền hòm, tiền ma chay, tiền bồi thường… trên trăm triệu nữa. Nếu không đáp ứng được điều đó, họ sẽ không bãi nại, có nghĩa là cậu Sơn phải ngồi tù ít nhất 7 năm. Còn họ bãi nại thì cậu chỉ phải ngồi tù chừng 3 năm. Nếu cải tạo tốt sẽ được giảm án, chỉ khoảng 2 năm là cậu lại trở về. Trước tình cảnh đó, chị Sáu bàn với ông bà Năm:

– Bây giờ anh chị tính đi, bỏ ra 200 triệu đồng để mua được 4 năm tự do cho thằng Sơn có đáng không? Nó ở nhà 4 năm thì có giúp được gì cho anh chị, hay anh chị vẫn phải nuôi. Mà nó đã trên 18 tuổi rồi, pháp luật không bắt cha mẹ phải đền, cứ để tự nó lo. Biết đâu trong tù, nó được giáo dục rèn luyện, sẽ thay đổi, biết thương cha mẹ, biết tổ chức làm ăn, sống nên người. Chứ như bây giờ, đêm thì nó đi chơi game, ngày thì đàn đúm uống rượu. Trông nó gầy xanh xao, cứ ngơ ngơ như gà công nghiệp.

Bà Năm khóc:

– Không lẽ chỉ vì tiền mà cha mẹ để con ngồi tù. Người ta nói “một ngày trong tù bằng nghìn thu ở ngoài”. Dù sao thì mình cũng gây ra tội lỗi với gia đình người ta, phải bồi thường, đó là đạo lý ở đời.

– Nhưng cái nhà ấy cũng quá đáng, lợi dụng việc này để làm tiền. Được rồi, em để cho anh chị tự lo, riêng khoản này, em không giúp đâu. Anh chị đã không nghe lời em thì ráng chịu lấy.

May mà ông Năm có miếng đất do anh chị em nhà bà Năm gom tiền mua giúp, ông Năm đã xây được nhà, gần hoàn thành, có thể mang thế chấp ngân hàng, vay được gần 2 trăm triệu đồng. Chỉ có điều, ông bà sẽ phải nai lưng ra làm lụng, nhịn ăn nhịn mặc kiếm tiền trả lãi ngân hàng. Còn tiền gốc, chưa biết ông bà Năm kiếm đâu ra để trả. Thôi, nó thuộc về thì tương lai, cứ để đó rồi tính tiếp…

*

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, chiếu ánh nắng gay gắt xuống cánh đồng. Những bụi thanh long xanh mơn mởn nhưng lại không có bóng che cho người chăm sóc chúng. Ông Năm kéo vạt áo lau qua khuôn mặt lấm tấm mồ hôi, nói to:
– Sáu ơi, nghỉ tay uống nước.
Chị Sáu đang đứng ở cuối hàng thanh long thứ tư, ngẩng lên đáp lại:
– Dạ, em cũng khát nước lắm rồi
.  .Họ cùng bước về chiếc chòi lá của người hàng xóm dựng tạm để coi thanh long gần đó. Chị Sáu rút tấm khăn lau khuôn mặt đầm đìa mồ hôi, rồi cầm chiếc nón quạt lấy quạt để. Không gian oi nồng. Ông Năm ngồi bệt xuống đất, vừa thở vừa rót nước từ chai nhựa vào ca trao cho em vợ. Nhìn Sáu, khôn mặt xinh tươi hồng hào ngày nào giờ đã bắt đầu nhăn nheo, mái tóc đã lốm đốm bạc, ông chợt thở dài. Nhớ lại hồi Sáu ở trên Sài Gòn, ông từng dẫn một vài người bạn tới mai mối, nhưng chị chỉ tiếp xúc một lúc là chán. Sáu rất thông minh, sắc sảo. Ngày còn đi học, Sáu giỏi cả môn tự nhiên và xã hội. Hồi Sáu làm việc cho gia đình anh Hai, có dịp trổ hết tài năng của mình. Anh Hai làm biên tập viên của một nhà xuất bản, bản thảo nhiều, anh mang về cho Sáu sửa lỗi morat. Anh ngạc nhiên khi Sáu không chỉ sửa lỗi chính tả mà còn biên tập cả những câu văn của các tác giả. Sáu còn tự học thiết kế sách, có thể đánh máy, dàn trang, in can những cuốn từ điển dày hàng nghìn trang. Nhưng cũng như nghề thợ bạc của anh Năm, nghề xuất bản cũng bước vào giai đoạn khó khăn, Sáu lại mất việc. Người sắc sảo khó kiếm chồng vì các chàng trai khi nói chuyện thấy kém kiến thức so với Sáu, mặc cảm tự động rút lui.
Chờ Sáu uống xong ca nước, ông Năm mới lên tiếng:
– Thôi trưa rồi, em về nhà anh nghỉ. Chắc chị em cũng đang ở nhà.
Chị Sáu lau miệng nói:
– Vâng, trưa nay em cũng muốn gặp chị.

*

Chị Sáu cứ lúi cúi đi bên những bụi thanh long ngay hàng thẳng lối như một đội quân danh dự phơi mình dưới nắng và đứng trước căn nhà ông Năm lúc nào không hay. Căn nhà được cất khá bề thế, bên cạnh con lộ nhỏ. Chị Sáu tìm được bản thiết kế mẫu nhà hơi lạ nên căn nhà nổi bật lên so với những ngôi nhà vốn quen thuộc ở thôn quê. Sáu nhớ lại, hồi đó ông Năm mướn thợ là bà con ở xã bên cạnh đến xây dựng. Họ xây câu giờ vì còn chạy “sô” xây cho nhiều nhà khác. Bởi thế, lâu lâu mới có vài người thợ đến làm. Ngôi nhà của ông Năm xây gần năm trời mà vẫn chưa xong, gây tốn kém và mất nhiều công sức cho gia chủ. Cứ mỗi lần bước chân tới nhà ông Năm, chị Sáu lại bô bô:
– Nếu anh chị nghe lời em mướn kíp thợ ở Thanh Phú thì ngôi nhà đã xong từ nửa năm rồi chứ không đợi đến bây giờ.
Có bữa ông Năm không nhịn được, phải nói lại với Sáu:
– Sao em cứ nói mãi một chuyện như thế làm anh nhức cả đầu.
Sáu đáp lại:
– Là em muốn tốt cho anh chị. Đấy, anh thấy không, họ xây cả năm vẫn chưa xong. Vật liệu mất mát hư hỏng, sắt thép gỉ sét hết cả, anh chị chịu thiệt chứ ai.

Ông Năm cáu:

– Anh biết rồi, nhưng mà em cứ nói hoài làm cho chị cằn nhằn anh thêm.

Là ông Năm nhịn Sáu nhiều lắm rồi đấy, chỉ vì số tiền xây nhà này do Sáu cho mượn, nếu không…

Sau vụ thằng Hải bỏ trường đại học đi bụi đời, chị Sáu bắt đầu nhận ra, hai thằng con của ông Năm mới là nguyên nhân làm cho chị ruột mình khổ. Chúng không nghe lời cha mẹ đã đành, mà đến dì nó bỏ tiền ra nuôi nấng chúng, chở chúng đi học… chúng vẫn không nghe lời, có khi còn cãi lại. Chị la rầy chúng cũng là vì thương cháu, nhưng chúng thấy dì có vẻ khó tính nên cho rằng vì dì không có chồng thành trái tính trái nết. Gặp dì, chúng tìm cách lảng đi nơi khác. Giận các cháu, chị Sáu muốn trút ấm ức lên đầu cha mẹ chúng, nhưng cha chúng lại là anh rể, không dễ nặng lời. Bởi thế, bao nhiêu bực bội chị trút lên đầu chị gái của mình. Thanh long đang cần công, chị và anh rể vuốt ngoe từ sáng đến giờ mới chỉ được một phần mảnh vườn. Nếu vuốt chậm, một cơn mưa đổ xuống là thuốc lan ra trái, lúc trái chín sẽ có màu loang lỗ, thì còn bán cho ai. Thế mà vườn mình chưa làm xong chị Năm lại đi làm mướn cho nhà khác, có tức không. Bao nhiêu bực bội ấy, Sáu muốn gặp bà Năm hỏi cho ra lẽ.
Bà Năm ngồi trước mâm cơm, phần cơm từ tối hôm qua đã nguội ngắt nguội ngơ. Còn thức ăn, chỉ có chén nước tương, dằm vài lát ớt. Nhìn mâm cơm, chị Sáu ném mạnh chiếc nón xuống nền nhà, dậm chân:
– Chị còn muốn sống nữa không chị Năm, ăn như vậy, làm như vậy, rồi chị sẽ chết sớm thôi.

Vừa nói Sáu vừa khóc. Bà Năm ngừng đũa, nhìn Sáu rồi chỉ vào chiếc ghế bên cạnh:

– Cứ ngồi xuống đó đã. Hôm nay chị ăn chay.

Sáu nói trong nước mắt:

– Hôm nay không phải ngày rằm, không phải ngày đầu tháng cuối tháng, chị ăn chay nỗi gì. Mà không phải hôm nay, em biết hết. Nhìn người chị kìa, ốm giơ xương, đã mấy lần người ta dìu chị từ vườn thanh long về, kiệt sức vì đói. Chị phải biết thương cái thân mình chứ.

Lặng đi một lúc, Sáu bỗng hỏi:

– Tại sao chị không ra vườn vuốt ngoe với em, việc  đang như dầu sôi lửa bỏng mà chị lại bỏ đi làm mướn?

Bà Năm buông đũa thở dài:

– Thằng Hải dẫn về đứa con gái là sinh viên đại học vừa mới ra trường, cũng hiền lành, dễ thương, đòi anh chị cưới cho nó. Anh chị cũng muốn yên bề gia thất cho nó để chúng dạy bảo nhau làm ăn. Bởi vậy chị mới đi làm mướn để kiếm ít tiền lo đám hỏi.

Sáu ngồi xuống chiếc ghế đối diện với bà Năm, cố lấy giọng ôn tồn:

– Chị còn nhớ lần trước, thằng Hải làm cho con bé mới 16 tuổi có bầu rồi dắt về nhà bắt anh chị phải cưới không? Chị cũng nói cưới vợ cho thằng Hải để chúng dạy bảo nhau làm ăn, nhưng rồi thế nào? Con vợ nó đẻ, giao cho anh chị nuôi, rồi con lớn, nó bỏ thằng Hải đi lấy chồng khác vì không ai lại ở với người không nghề nghiệp, ăn bám cha mẹ. Bây giờ chị cưới vợ cho thằng Hải thì kịch bản quay trở lại như lần trước. Chúng nó lại giao con cho ông bà nuôi. Nếu con vợ nó đẻ thêm vài đứa nữa thì anh chị nuôi làm sao nổi. Lúc đó anh chị ráng mà chịu, tôi không ở đó giúp mãi đâu nhé.

Bà Năm vốn hiền lành, hiền đến nhu nhược, còn ông Năm ít học, lại hơi lù đù nên mọi vấn đề đối nội đối ngoại của gia đình ông bà Năm phải nhờ dì Sáu cáng đáng, bởi vậy Sáu mới có dịp lấn lướt anh chị, đôi khi Sáu đi quá xa vị trí của mình làm người ta có cảm tưởng Sáu mới là người rường cột trong gia đình ông bà Năm. Tuy hiền lành nhưng bà Năm cũng là người có chút chữ nghĩa nên nhận biết được phần nào, bà cũng rất thương em, thấy em vì gia đình mình mà hy sinh tất cả nên cũng ráng chịu đựng, nhưng sức chịu đựng của con người ta có giới hạn, bị Sáu ép quá bà không còn nhịn được nữa bèn phản kháng:

– Chuyện dựng vợ gả chồng là chuyện gia đình anh chị. Em không có quyền đồng ý hay không đồng ý.

– Đúng là tôi không có quyền, đó là chuyện của gia đình anh chị, nhưng nó vẫn cứ liên quan đến tôi, bởi không thể nhìn anh chị chết đói. Anh chị khổ, tôi lại phải lo lắng.

Bà Năm nóng mặt:

– Tôi không cần dì phải lo.

– Chị lớn rồi mà sao nói liều như vậy. Chuyện nhà chị cuối cùng lại phải đến tay tôi. Nếu không phải là chị em máu mủ ruột rà thì chị làm gì mặc kệ. Giả sử chị bị bệnh phải nằm viện không có tiền thuốc thang, không lẽ chúng tôi để chị chết mà không cứu. Rồi thiên hạ chê cười rằng dòng họ nhà mình sống không tình nghĩa.

– À, thì ra các người chỉ sợ thiên hạ chê cười mình chứ gì? Dì không có chồng con nên không hiểu được lòng mẹ.

– Nhưng chúng nó có thương chị không? Chúng là những đứa bất hiếu, hết lần này đến lần khác về đục khoét cha mẹ, không nhìn thấy cha mẹ phải khổ sở kiếm từng đồng. Chúng  chỉ biết ăn chơi cho thỏa chí, chúng có còn là người nữa không?

Bà Năm càng thêm giận:

– Không phải ở đó dạy bảo tôi. Dì là em tôi sao dì hỗn thế?

Ngỡ ngàng vì đây là lần đầu chị mình phản kháng lại, Sáu càng thêm tức nên không đủ bình tĩnh giữ mồm giữ miệng nữa:

– Tôi thương chị, thương các cháu nên cố níu kéo cái gia đình này, nếu tôi buông tay thì cả gia đình này sẽ chết.
.   Mắt bà Năm long lên, bà nhịn Sáu nhiều lắm rồi, như cái lò so bị nén lâu ngày nay bỗng bật tung ra, bà đứng lên chỉ vào mặt Sáu:
– Được rồi, không cần sự níu kéo của mày. Cứ buông tay đi, tao sẽ tự lo, không cần sự quan tâm của mày.
Chị Sáu ôm mặt chạy ra khỏi nhà, được một đoạn, chị ngồi thụp xuống khóc nức lên.
Bà Năm ngồi thừ ra, rồi bỗng xẹp xuống như quả bong bóng bị xì hết hơi. Bà thấy nhức đầu dữ dội, môi lưỡi tê cứng, tai ù đi, tim đau nhói… Bà ôm lấy ngực rồi gục xuống nền đất. Ông Năm chạy tới đỡ bà dậy, nhưng người bà đã mềm oặt, miệng không nói lên lời. Ông kêu to:
– Sáu ơi, Sáu ơi, chị em làm sao rồi.
Nghe tiếng kêu, Sáu chạy vội vào ôm lấy bà Năm, chị run bắn lên vì thấy bà Năm đã bất tỉnh. Chị gào lên hoảng loạn:
– Chị Năm ơi, tỉnh lại đi… em hại chị rồi… Cứu chị tôi với, nhanh lên…
.    Khi người ta đưa bà Năm lên tới bệnh xá thì bà trút hơi thở cuối cùng. Người đau khổ nhất có lẽ là Sáu, bởi chị cho rằng vì mình cãi nhau với bà Năm khiến cho bà bị sốc mới dẫn đến đột quỵ.
Từ sau bữa bà Năm chết, người ta thấy chị Sáu thường ra vườn thanh long đứng ngơ ngẩn hàng giờ, miệng lảm nhảm: “Phải chi chúng là thanh long, là thanh long…”

.                                                    NGUYỄN TRƯỜNG

BÌNH LUẬN