Gia Môn NGUYỄN NGỌC TẤN – Phú độc vận trong QUẾ HẢI thi tập-

0
668

                                            PHÚ ĐỘC VẬN

                                                                          Tố Hoài giới thiệu và chú giải

.        image Nhà thơ Gia Môn Nguyễn Ngọc Tấn (1885-1945)  người xã Thanh Trà, tổng Quế Hải (nay là xã Hải Quang, Hải Hậu, Nam Định).        
        Thuở nhỏ ông, một trong hai người thông minh nổi tiếng trong vùng cả về văn chương thi phú.  Tính tình phóng túng, chữ nghĩa khoáng đạt, không muốn ép buộc vào phép tắc cấm kỵ khắt khe vô lý chốn trường thi, nên chỉ đi thi lấy lệ.
.        Ông bỏ qua mọi chen lấn chốn quan trường cát bụi hay tước vị phù du. Có thể thế ông chỉ nhận chân
Đội trạm Bưu điện, cưỡi ngựa đưa thư, có điều kiện tự do tiêu dao cùng thắng cảnh, thăm thú bạn bè thư kiếm…  làm nên QUẾ HẢI thi tập
.
.         Phú của ông hầu hết độc vận. Những cặp đối ngẫu hoàn chỉnh. Ngôn từ phong khoáng , thào hoa.      

Xin g
iới thiệu một số bài phú độc vận trong QUẾ HẢI thi tập của ông.

     Phần 1
CHÚC TỤNG

.                                                          *

.                                   THƯỞNG XUÂN

                                                        Kết quả hình ảnh cho hình ảnh hoa đào chợ tết                                                                   Chúc 81 Xuân, bá phụ.

Trong năm phúc(1) trước tiên là Thọ, trời để phần những bậc hiền nhân.
Mà bốn mùa đệ nhất là Xuân, cảnh lại có nhiều bề quang thái.
Tứ đại đồng đường vui vẻ, cuộc thưởng Xuân còn mãi mấy trăm năm,
Tam dương khai thái(2) rõ ràng, bày tế thọ để lưu phương vạn tải.
Mừng nghiêm đường: Phong nhã ngày xưa,
Khang cường hơn năm ngoái.
Sắc tướng nhất gia sinh Phật(3), mắt xanh coi lắm vẻ tinh thần,
Thanh nhàn lục địa thần tiên, tóc bạc vẫn trong lòng thông thái.

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh hoa cúc tếtNgày thư thả dạo chơi vườn lão phố(4), một vài bông hoa cúc vuốt ve chơi,
Buổi thong dong ngồi tựa ghế hoàng hy(5), năm ba chén trà sen nghi ngút khói.
Tích thiện nhớ lời Tư Mã(6), trung hậu truyền lai,
Tề gia theo thói Đào công(7), kiệm cần huấn hối.
Kể từ lúc đồng điền hoang mãng, nam nhi đáo thử, đem can tràng chống chọi với giang sơn,
Cho đến khi Quế Hải lập thành, Chánh tổng thăng hàm(8), ra cự phách giồng lêu trong xã hội.
Hoa huyện lục hương bay ngào ngạt, làm hội viên thương thuyết nước nhà chung(9),
Đào thành(10) khi gió mát thanh thơi, xin hưu trí để an nhàn ngày tháng rỗi.
Son phấn đã ơn vua tô điểm, sắc vàng thêm rạng nét chu chương,
Võng lọng nay rước cụ ra vào, áo gấm rõ thêu hoa tử đại.
Tang bồng phỉ chí(11), bạn xương nhan(12) trò truyện nhỏ to,
Mái ngạc(13) thêm hương, nhờ hồng phúc trước sau nối dõi.
Xuân Thu mới tám mươi có lẻ, trăng đồng gió liễu thú vui chơi,
Tuế nguyệt mong trăm tuổi còn dài, con quế cháu hoè(14) mừng sớm tối.
Đào tiên ấy ba ngàn năm kết quả, ngày tháng còn nhiều,
Mai Lĩnh nay hai độ tái khai hoa(15), hào quang tốt mãi.

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh hoa mai miền bắcNhân giả thọ trời cho được thế, đắp nền nhân từ trước đã xây cao,
Tài giả bồi, con cũng xin ghi, trồng cây đức từ đây chăm dội tưới.
Những tưởng tượng từng khi ái nhật, đức cù lao(16) xin ví với cao sâu,
Hằng thiết tha đến chữ tri niên, lòng hỷ cụ không khuây bên đệm gối.
Vậy chúng con:
Cao thấp sắp hàng,
Đứng quỳ trước chái.
Tiệc bày khánh thọ thổi vang ống ngọc rước xuân về,
Lễ cử bái niên(17) sắp sẵn mâm đào bưng yến lại.
Đường thượng soi gương bạch tuyết, nhìn dong nhan mới biết tam tôn(18),
Toạ tiền chuốc chén hoàng hoa, dâng tế lễ lậy thêm ngũ bái.
Chén Vạn Thọ ba tuần kèo rót, trước mừng câu thuỵ áng hồng sơn(19)!
Thơ Cửu Như(20) mấy khúc ca ngâm, xin chúc chữ phúc như đông hải !
Toán hạc tính thừa ba vạn rưởi(21), xuân thu một tuổi một cao,
Thẻ rùa(22) bói ngoại chín mười mươi, cháu chắt càng ngày càng giỏi!

                                                                                         Xuân 1936
.                                                                Gia Môn NGUYỄN NGỌC TẤN
______
1. Năm phúc: Kinh Thư, ngũ phúc gồm Thọ, Phú, Khang Ninh, Du hiếu đức (vui theo đạo đức) và Khảo chung mệnh (chết già yên lành).
2. Tam dương khai thái: Theo Kinh Dịch là tháng Giêng trong sáng.
3. Nhất gia sinh Phật: Phật sống của một nhà.
4. Lão phố: vườn nhà. Đái Thúc Luân đời Đường, bài Mộ Xuân hoài cảm “Đông hoàng khứ hậu thiều hoa tận, lão phố hàn hương biệt hữu thu”. Lệ Thần dịch: Vắng Đông quân hết thiều hoa, mùi hương lạnh lẽo vườn nhà có thu.
5. Hoàng hy: Vui nhàn. Kinh Thi “Mạc cảm hoặc hoàng:” chẳng ai dám nhàn rỗi một chút nào. Hoàng: thư nhàn. Hy: vui, phúc.
6. Tư Mã Quang, tự Quân Thiệt nguòi sông Tốc, huyện Hạ, Thiểm Châu. Tể tướng đời Bắc Tống. Nổi tiếng đức độ nên được gọi “Vạn Gia Sinh Phật”. Là cây đại bút: Bộ sử đồ sộ “Tư trị thông giám” và “Tốc Thủy kỷ văn” cùng“Huấn kiệm thị khang” dạy ta cần kiệm, chống tham lam, xa xỉ.
7. Đào Uyên Minh, tức Đào Tiềm (365-427) người Tầm Dương, Giang Tây, dòng dõi Quận công đại Tư mã Đào Khản thời Tấn. Danh sĩ khí tiết. Treo ấn từ quan. Ở nhà cỏ, làm ruộng. Từ chối bổng lộc dù nghèo.
8. Chánh tổng Quế Hải.
9. Hội viên: nghị viên, còn gọi dân biểu (nhân dân đại biểu) của huyện.
10. Đào thành: Dậy dỗ con cháu trưởng thành.
11. Tang bồng phỉ chí, tang bồng hồ thỉ: Tang: Cây dâu làm nỏ. Bồng: cỏ bồng, làm tên. Phỉ: giúp đỡ. Hồ: cung. Thỉ: mũi tên. Ở ta và Trung Hoa xưa, sinh con trai, thì lấy cung này bắn 6 mũi về 6 hướng đông tây nam bắc, lên trời và xuống đất, hy vọng con sẽ có chí khí, làm nên.
12. Xương nhan: tướng đẹp, hiển đạt.
13. Ngạc: đọc bài như ca hát. Mái ngạc: nếp nhân văn truyền thống.
14. Con quế cháu hoè: Tống sử, nho sĩ Phùng Đạo mừng Đậu Vũ Quân, đất Yên Sơn có 5 con trai đều học hành hiển đạt: “Linh xuân nhất châu lão, đan quế ngũ chi hương”- Linh xuân một gốc thọ, đan quế 5 cành thơm. Và nho sĩ Vương Hộ trồng ba cây hoè ở sân nhà, nói “Ba cây hoè này nêu chí ta, con cháu ta sẽ có người làm đến tam công”. Vương Đán con trai ông làm tới chức tể tướng.
15. Mai Lĩnh: Đại Dữu tức núi Dữu Lĩnh Giang Tây, có nhiều cây mai nên gọi Mai Lĩnh. Tống Chi Vấn (658-713) bài Đại Dữu Bắc Dịch “Minh triêu vọng hương xứ, ưng kiến lũng đầu mai”– Sáng trông phía quê nhà mới thấy rõ cây mai trên đồi. Ý câu chỉ bà kế sinh hạ 2 con gái.
16. Cù lao: Nhọc nhằn. Nói công lao cha mẹ gồm chín chữ: Sinh, cúc, phủ, súc, trưởng, dục, cố, phúc, phục: Đẻ, nâng đỡ, ấp iu, bú mớm, nuôi lớn, dạy dỗ, lo lắng, khuyên răn, che chở.
17. Lễ cử bái niên: hành lễ chúc thọ.
18. Tam tôn: ba bậc, ba vị cùng ngồi.
19. Thuỵ áng hồng sơn: trông rực rỡ như ngọn núi lớn.
20. Cửu như: Lời chúc trong “Thiên Bảo” Kinh Thi: “Như sơn, như phụ, như cương, như lăng, như xuyên chi phương chí, như nguyệt chi hằng, như nhật chi thăng, như nam sơn chi thọ, như tùng bá chi mậu” nghĩa là như núi, như gò, như núi to, như gò lớn, như sông nước chảy, như trăng thường soi, như mặt trời lên, như núi Nam, xanh tươi như tùng bách.
21. Toán hạc tính thừa ba vạn rưởi: tính sổ thọ thấy trên trăm tuổi.
22. Thẻ rùa: bói bằng mai rùa.


                                   KHẮC HOA KỲ KẾ

                                                                  Văn bia đền công Tổng Quế Hải
Mừng nay:
Biển lặng châu ba,
Non dâng hán tuế (1)
Trên thánh thượng khoan dung lượng cả ngọn huân phong(2) mát mẻ khắp muôn dân.
Dưới quốc gia bảo hộ ơn sâu, giọt huệ vũ dồi dào trong bốn bể.
Chim vượn cũng vui lòng đua hót véo von mừng triều cận uy nghi,
Cỏ hoa đều mở mặt tươi cười nức nở rõ sơn hà tráng lệ.
Áng ta đây:
Một giáp(3) một thôn
Cùng nhau cùng lệ.
Chữ bia đá rành rành vừa mới khắc, tên là An Khang, Thọ Khang.
Sổ bìa xanh rờ rỡ vẫn chua đề, tịch thuộc làng Trùng, tổng Quế.
Kể trước một trăm mười bảy cụ(4), đem kinh luân(5) ngăn đại hải mới đầy,
Đắp hai ngàn một trăm trượng đê, so công đức ví Thái Sơn còn nhẹ.
Sông Vạn sông Sâu hai cửa, lấp ngang sóng bạc đã êm dầm,
Còn sông Hải Hậu một dòng, khôn vá hàm rồng cho khỏi nẻ.
Lòng thành kính thiết đàn trí tế(6), dưới trời khấn nguyện có thần linh,
Nhờ uy linh bất nhật nhi thành(7), trên đất đắp đường qua thuỷ tế.

Cây minh công lá ngọc tốt xanh rờn,
Đàn kỳ tích nền vàng in đỏ choé.
Công nghiệp ấy quan Đào, quan Đỗ(8) khuyến mộ đắp bờ ngăn nước, bước cần lao bao quản mấy tinh sương,
Tụ tịch nay có xã có dân, biến từ bãi bể nương dâu, câu di ái(9) ghi vào trong phủ phế.
Ngày nay sở tại giáp thôn
Nhớ đến hết lòng kính nghĩa.
Xây đắp lâu đài kỷ niệm, để bách niên hương hoả phụng thờ,
Trang hoàng miếu vũ nguy nga, cho vạn cổ xuân thu tế lễ.
Trong một tổng xưng vi thắng cảnh, rõ có cây có lá xanh rờn,
So sáu làng(10) đệ nhất danh am, kìa bên bể, bên sông tử tế.
Mái đình trước điểm tô phấn nước, áo gấm hoa bạch tú rõ ràng,
Hàn uyển nay tắm gội hương trời, sắc vàng rõ chu chương(11) rạng vẻ.
Văn kế tiếp cửu trùng sắc mạch(12), áng công danh thanh thả bước còn cao,
Hộ sơ thăng thập lý hầu phong(13), đường chính trị tài tình hay mọi nhẽ.
Sĩ chẳng quản Âu phong, Á vũ, chăm chỉ sôi kinh nấu sử, bút một ngòi giật giải tam khôi(14).
Nông chuyên cần đông mẫu nam cao, nhẩn nha cuốc gió cày mây, ruộng ngàn mẫu danh nèo bách nghệ.
Công chan chát rìu mây búa nguyệt, đền năm tầng cầm vững thước công thư,
Thương bán buôn trên bộ dưới thuyền, vàng nghìn lạng tinh thông đường lợi kế.
Văn thi cử tài hoa lỗi lạc, lên cật ngựa vinh quy bái tổ, gái môi son má phấn cũng mê tình,
Võ binh uy trí dũng đảm đang, đạp vòi voi thét tướng cần vương, loài giá áo túi cơm nghe mất vía.
Hào mục cũng có lòng trung nghĩa, tiếng vẻ vang trong họ ngoài làng,
Tuần phòng không dung đứa gian tham, quyền cấp chấp(15) kẻ vì người nể.
Đê chính đã có người coi sóc, khi nắng khi mưa, khi trưa, khi tối trông nom cương tỉnh mở mang,
Hải tần mà lắm mặt chơi sang, nào cờ nào kiệu, nào rượu nào thơ, lịch sự phong lưu tuổi trẻ.
Trai lễ phép đủ cầm kỳ thi hoạ, sông Ngân Hà kén khách bắc cầu Ô,
Gái tảo tần mà tuyết nguyệt phong hoa, duyên kim cải chọn người tài bắn sẻ(16).
Già tám chín mười mươi đi lụ khụ rủ nhau lên Thọ vực, Xuân đài(17),
Trẻ lũ ba lũ bảy chạy lon ton, mong bước tới Nghiêu đình, Thuấn bệ(18).
Dân bốn mùa bốn nghiệp vui chung,
Người trong giáp trong thôn là thế.
Nay nhân:
Miếu vũ khánh thành
Đường hoàng nghi vệ.
Phảng phất trên mây xe bóng thánh, kiệu hai hàng dóng thẳng rước nghiêm trang,
Lơ thơ trước gió quạt hương trời, cờ năm sắc mở ra trông lấp loé.
Văng vẳng tiếng loa đồng dậy đất, giang sơn đà mở mặt quan chiêm,
Rung rinh bóng lọng bạc rợp đường, kình ngạc cũng quay đầu bái khể.
Kèn lưu thuỷ thổi cung nam cung bắc, cá dâng hoa nằm bên bãi nghe kinh,
Trống tam xuân, cầm tiếng nhặt tiếng khoan, chim cúng quả đứng ngoài cây lắng kệ.
Nhờ thần thánh giúp người tâm địa hảo, hội vinh hoa lánh khỏi gót phong trần,
Hộ nhân dân được hưởng phúc hà sa, chốn phần tử nở thêm hoa phú quý.
Người nhàn nhã mấy giăng trong, gió mát, trên hoàn cầu tiến tới bước văn minh,
Của đề đa và già khoẻ, trẻ yên, trong hương ấp giỏi giang người hiếu đễ.
Ơn quang cảnh an khang vĩnh thịnh, nền nghĩa nhân hữu khai tất tiên(19)!
Phúc trùng lai thọ khảo vô cương, đời hưng thịnh khắc hoa kỳ kế!

                                                            Gia Môn NGUYỄN NGỌC TẤN, năm 1922
_______
1. Hán: sườn núi. Hán tuế: tuổi cao.
2. Huân phong: gió mát. Kinh Thi:“Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngộ dân chi huân hề”– Gió nam thổi mát mẻ thay có thể làm dân ta vui hòa.
3. Giáp: nhỏ hơn thôn (làng), tương đương xóm, ấp.
4. 117 vị tiên công khai khẩn, sáng lập vùng Quế Hải.
5. Kinh luân: gỡ từng mối tơ gọi là kinh. Xếp cùng loại tơ lại bện thành dây gọi là luân.
6. Thiết đàn trí tế: lập đàn làm lễ biết ơn.
7. Bất nhật nhi thành: một ngày nào đó sẽ thành công.
8. Tổng đốc Nam Định, Đào Trí (tự Trung Hòa) và Dinh điền Chánh sứ Tiến sĩ Đỗ Tôn Phát (1812-1893) người khởi xướng, lo toan các thủ tục và định chế việc khẩn hoang vùng đất nay là các xã Hải Quang, Hải Đông, Hải Tây, Hải Lý, Hải Chính, huyện Hải Hậu.
9. Di ái: điều nhân ái, vui vẻ (di) được truyền lại.
10. Sáu làng: Trùng Quang, Thanh Trà, Trung Phương, Quế Phương, Liên Phú, Doanh Châu, thuộc tổng Quế Hải, huyện Hải Hậu.
11. Hàn uyển: cung thờ chính. Chu chương: vẹn toàn, rực rỡ.
12. Kế tiếp cửu trùng sắc mạch: liên tiếp ngày càng cao, càng sâu sắc.
13. Hộ sơ thăng thập lý hầu phong: Người mới từ mười phương tụ về.
14. Tam khôi: đứng đầu kỳ thi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
15. Cấp: khẩn thiết. Chấp: thừa hành. Cấp chấp: tuân thủ luật lệ.
16. Bắn sẻ: Đường thư: Đậu Nghị đời Đường vẽ con chim sẻ trên bình phong kén rể cho con. Lý Uyên (sau này là Đường Cao tổ) vào thi đã bắn trúng và lấy được làm vợ.
17. Thọ vực: Nơi để người sống lâu ở. Xuân đài: cái nhà cao để trông xa.
18. Nghiêu đình, Thuấn bệ: nơi thi cử, đỗ đạt. Truyền thuyết thời lập quốc Trung Hoa, Đào Nghiêu vua nhà Đường (2347-2246 trCN) trị vì 72 năm, truyền ngôi cho Thuấn. Đào Thuấn nhà Ngu trị vì 48 năm truyền ngôi cho Vũ. Sách Hoài Nam Tử ca ngợi Ngu Thuấn “Tác sự thành pháp xuất khẩu thành chương”– Việc làm thành luật, miệng nói thành văn. Ba đời vua này, vua tôi hoà mục, đất nước thái bình, thịnh trị.
19. Hữu khai tất tiên: người trước đã lập nên.


                                HẢI YẾN HÀ THANH

                                                              Văn tế đền thôn Tây, Thanh Trà
Mừng nay:
Đuốc ngọc rõ ràng,
Âu vàng vững chãi.
Trên chín bệ áo xiêm Nghiêu, Thuấn, nghi vệ thái bình.
Dưới tam quan hốt giải cao quỳnh(1) văn minh thời đại.
Áng ta đây:
Danh hiệu Tây thôn,
Xưng vi thắng cảnh,
Đất tiên hoàng khai sáng phủ Xuân Trường, huyện Giao Thuỷ, thuộc về Trà Hải cố hương xưa.
Tới khi Thành Thái niên gian(2), tổng Quế Hải, xã Thanh Trà(3), biệt lập Tây thôn dân ấp mới.
Mạch mão tự long đồng vắt lại, cờ vinh hoa chấn vững đôi bên,
Nước canh từ bể quế dâng lên, dòng phúc lộc tuôn đưa một lối.
Trông lên thấy mấy tầng đài các, chữ huân lao kỷ niệm thiên thu,
Nhớ đến công ngật lập thùng từ(4), dòng tính tự lưu phương vạn tải.
Thần tư chi phúc anh linh ra lắm kẻ anh hào
Địa nhất dĩ linh dục tú (5) cũng nhiều người tuấn ngải.
Văn hằng mực vào quan ra lại, dong vó ký tên đường chính trị, áng công danh một bước một cao.
Võ binh uy dẹp bắc đánh đông, đạp vòi voi thét tiếng cần vương, tài dũng cử càng ngày càng giỏi.
Sĩ chẳng quản sôi kinh sử á, thi đỗ cũng cử nhân tiến sĩ, văn chương đà rõ chữ tài hoa,
Nông cấy cày đông mẫu nam cao, được mùa vui chu nhã mân phong(6), trác thức hát âu ca(7) nhạc lợi.
Công hoá học trong trường bách nghệ, trăm khôn nghìn khéo, đền năm tầng giữ mực tinh vi.
Thương mở hàng trong cõi năm châu, thuận bán vừa mua, giá nhất định ra tay phát mãi.
Gái xiêm áo sửa sang tử tế, mới ra bề bội ngọc minh loan,
Trai bố kinh sắm sửa tươm tân, cho đáng giá tảo tần hanh thái.
Già đủng đỉnh bước lên cõi thọ, phương phi tóc bạc gia mồi,
Trẻ thong dong chơi dưới đền xuân, học tập điều ăn tiếng nói.
Quản hiệp lựa dây văn, dây võ, phú Dương xuân, thơ Bạch tuyết(8), xuất kinh nhập sử khoan thai,
Đào nương ca tiếng nhỏ tiếng to, ngâm Xích Bích(9), tụng Hồi văn(10) lên bổng xuống trầm êm ái.
Nhờ thần lực nhân phong huệ vũ, ba thôn đều phú quý vinh hoa.
Cho ngô dân thực đức ẩm hoà, nghìn năm vẫn điền trù khảng khải(11)
Đứng giữa trời nam nương bóng nguyệt, dám mừng câu hải yến hà thanh(12)!
Trèo lên đất bắc vịn thang mây, xin chúc chữ dân an quốc thái!

                                                                          Gia Môn NGUYỄN NGỌC TẤN
_____
1. Hốt giải cao quỳnh: giành được giải cao, danh giá.
2. Thành Thái niên gian: Năm 1896 niên hiệu Thành Thái, phân chia vùng đất khẩn hoang thành xã (nay là các thôn) Trùng Quang, Thanh Trà, Trung Phương, Quế Phương, Liên Phú thành tổng Quế Hải, huyện Hải Hậu.
3. Thanh Trà: ghép tên từ hai làng Thanh Quang và Trà Hải. Đền thôn Tây toạ lạc tại xóm Quang Tây xã Hải Quang
4. Ngật lập: chót vót. Ngật lập thùng từ: công đức lớn lao.
5. Thần phù hộ sáng suốt. Đất lành sẽ sinh người tài.
6.Chu nhã mân phong là tên những chương thơ trong Kinh Thi, nói về quan hệ tốt đẹp, tử tế hoà thuận, biết lễ nghĩa giữa vua, tôi.
7. Trác thức: trác việt, kiến thức hơn người.
Âu ca: Nhiều người cùng hát một lần. Mạnh tử: “Bất âu ca Nghiêu chi tử, nhi âu ca Thuấn.”- Không hát khen con vua Nghiêu (vì không  hiền) mà ngợi ca con ông Thuấn (vì hiền tài).
8. Dương xuân Bạch tuyết: Theo Tống Ngọc, thời tiền Hán, đó là ca khúc nổi tiếng do Sư Khoáng, tự Tử Giã, nhạc sư (thời Tấn Bình công 557-532 trCN) soạn, nghệ thuật cao siêu.
9. Phú Xích Bích của Tô Đông Pha, viết về nơi Chu Du phá 82 vạn quân Tào (thời Tam quốc).
10. Hồi văn: là một loại thơ đọc ngược xuôi đều có nghĩa.
11. Điền trù khẳng khải: được mùa mỗi ngày một hơn.
12. Hải yến hà thanh: biển lặng sông trong.


                          KẾ THẾ KỲ HOA

                                            Mục rục từ đường họ Nguyễn năm 1942
Tại Thanh Quang, Xã Hải Thanh.

Mừng nay:
Nước tổ thuận hoà,
Trời cao hậu đãi.
Con Hồng cháu Lạc mấy nghìn năm văn hiến cõi Nam Giao(1),
Đất thánh châu thần riêng một cảnh thái bình trong thế giới.
Trên thánh thượng áo xiêm rủ trị, ngọn cờ bảo hộ phất phơ che,
Dưới triều thần đai mạng ung dung, bên ghế trị bình vui vẻ mãi.
Gió Á mưa Âu không ngại, nhà đàn, ngõ địch(2) chốn sa trường, xa đạn lạc tên bay,
Ngày Nghiêu, tháng Thuấn có thừa, áo cánh quần hồ miền thôn dã cũng hoa cười ngọc nói.
Áng ta đây:
Nguyễn tộc rõ ràng
Thống tôn dòng dõi
Công đức tổ tại tiền triều rờ rỡ, mở nền khanh tướng tước gia ban, Thái bảo quốc công(3).
Trung hiếu ngài đề lịch sử rành rành, theo dấu đỉnh chung(4) nhà thế hệ phong lưu quang thái.
Hà Quang trước giang sơn là cựu thổ, khoảng vua Thành Thái phân sách ra mới đặt Thanh Quang(5).
Trùng Quang, sau miêu duệ kiến trưng điền(6), niên hiệu Bính Thân, lập tổng đấy gọi là Quế Hải.
Từ đường chính ở nơi đất tổ(7) lửa hương thơm nức mãi
nghìn năm,
Tử tôn nay theo nếp nhà tông, xây đắp vững vàng lưu vạn đại.
Trong chính ngự long triều hổ phục, cảnh thiên nhiên trông rất lạ lùng,
Ngoài minh đường(8) sơn chỉ thuỷ giao, xem địa thế có bề rộng rãi.
Mạch mão dẫn từ Lạn Hải(9), đường vinh quang đi thẳng đến đây,
Nước canh dẫn tự Nhị Hà, nguồn phúc lộc một dòng đưa tới.
Kiểu đất có canh kỳ chấn cổ(10), đĩnh sinh(11) ra lắm kẻ anh hào,
Nhờ trời cho ngọc diệp kim chi, phát xuất cũng nhiều người tú ngải(12).
Thiên bá hộ(13), phấn vua tô điểm, sắc vàng thêm rạng vẻ chu chương,
Văn võ giai(13), lộc nước dồi dào, áo gấm rõ thêu hoa tử đại.
Sĩ tân học kinh Âu sử Á, cũng thi cũng đỗ, rồi cũng cử nhân tiến sĩ một bước một cao,
Nông chuyên cần cúc nguyệt sừ vân(14), thừa thóc thừa tiền lại thừa vui chu nhã mân phong(15) một ngày một mới.
Công thiện sự nảy tài hoa mỹ, trường bách nghệ chen vai đạp gót, so Đông Dương mẫu mực ý càng tinh,
Thương sinh tài đợi giá ngọc cao, đất năm châu thuận bán vừa mua, hàng hải cảng buôn thu tay rất giỏi.
Văn ném bút nhảy lên cật ngựa, hết lòng báo quốc, đem kinh luân đổi lấy chức công hầu,
Võ đeo gươm đạp nảy vòi voi, thét tiếng cần vương, bầy thao lược, cũng nổi danh cơ đội.
Già trẻ đến đền xuân cõi thọ, đề huề chơi gió mát trăng thanh,
Gái trai đều phấn nước hương trời, danh giá cũng uyên chờ, ương đợi.
Nào những kẻ hào hoa phong nhã, chí lăm le lần bước thang mây(16),
Hay những người cần kiệm gia phong, lòng vui thú yên trong đệm gối.
Rầy nhân:
Miếu vũ trùng tu,
Đường đàn tăng khải: kiệu phù không đi cờ phất trống giong(17),
Túc tĩnh trang nghiêm: người hỗ giá có dù che ngựa cưỡi.
Giọng đồng thét tiếng loa dậy đất, lọng vàng bông bạc rõ rung rinh.
Bóng mây che cánh quạt rợp trời, bệ ngọc ngai vàng trông sáng chói.
Thăng đường vui vẻ, cuộc hân hoan cổ vũ âu ca,
An tọa thong dong, xin kính tiếp hoan nghênh lễ bái.
Cờ đây sẵn có binh có tướng, không dám bày mang tiếng thấp cao,
Điếm không làm bên võ bên văn, đặt ra ngại đề phòng sớm tối(17).
Chọn kép đến xuất kinh nhập sử, đàn năm cung nên dát ngọc sao kim,
Gọi đào lên đọc phú, ngâm thơ, ca mấy khúc lựa hành vân lưu thuỷ.
Nhờ tiên tổ lâu dài còn mãi, kể danh dự năm làng chi phái(18), làm từ đường kỷ niệm thiên thu,
Việc đống lương xây đắp đã xong, nhớ huân lao ba vị đốc công, dòng tĩnh tự lưu phương vạn tải.
Thắp nến sáng dâng lên tổ miếu, dám mừng câu kế thế kỳ hoa!(19)
Cuốn mây xanh đứng giữa trời nam, xin chúc chữ tộc kỳ tương đại!(20)
Tri thông bằng hữu.

Gia Môn NGUYỄN NGỌC TẤN, năm 1942

_____
1. Nam Giao: thuộc nước Việt cổ. Đất Giao Chỉ phía nam Trung Hoa. Sau này các đế chế Trung Hoa chiếm được nước ta chia làm 3 châu, một phần đất gọi là Giao Châu.
2. Nhà đàn ngõ địch: tiếng đàn tiếng sáo báo cho nhau tránh hoạn nạn.
3. Ông tổ chi họ Nguyễn (tam Quang) kể từ cụ Thái úy Hào quận công Nguyễn Phúc Diễn.
4. Đỉnh chung: cái vạc và cái chuông. Ai công lao lớn thường được ghi tạc công danh vào đó.
5. Niên hiệu Thành Thái (1889- 1907). Xã Hà Quang, trước năm Bính Thân (1896) chia thành hai xã là Hà Quang và Thanh Quang.
6. Miêu duệ: miêu tự, hậu duệ con cháu nối dõi. Kiến trưng điền: Những người có công khẩn hoang được mua ruộng đất làm tư điền thế nghiệp theo luật triều đình.
7. Ở Hà Quang nơi thờ cụ Thái úy Hào Quận công Nguyễn Phúc Diễn.
8. Chính ngự: nơi thờ chính. Minh đường: gian ngoài thường để tế lễ.
9. Lạn Hải: là Hà Lạn nay thuộc xã Hải Phúc, Hải Hậu. Sau vụ Lệ Chi Viên hậu duệ Nguyễn Trãi là Phạm Anh Vũ và sau vụ Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông thì con cháu họ đã chạy về vùng đất này lập nghiệp.
10. Canh kỳ chấn cổ: trồng cấy đã có nền nếp từ xưa (chấn: sửa sang).
11. Đĩnh: ngay thẳng. Đĩnh sinh: chắc chắn sinh ra.
12. Tú ngải: giữ sáng sủa, thành đạt thông minh,.
13. Thiên bá hộ, văn võ giai: chỉ tước hiệu và phẩm hàm con cháu trong họ mạc….
14. Cúc nguyệt sừ vân: cuốc trăng bừa mây, chuyên cần chăm chỉ.
15. Chu nhã, Mân phong: Kinh thi. Thiên Đại Nhã ca ngợi Chu công giúp Thành vương. Thiên Hữu Bật ngợi vua Hy công, vua tôi biết lễ nghĩa. Một niềm vui tiết nghĩa, thuận hoà.
16. Thang mây: con đường học hành thi cử, đỗ đạt.
17. Buổi khánh thành từ đường sau lập đàn tế lễ xong, không tổ chức rước kiệu, cũng không lập sân chơi cờ tướng (cờ người mang tên quân cờ) như thường có trong các lễ, kỵ lớn thời ấy. Vì thế như có lời thanh minh thông tri với mọi người. (Túc: kính trọng, tĩnh: yên lặng)
18. Năm làng chi phái: năm chi họ của Nguyễn tộc ở năm làng.
19. Kế thế kỳ hoa (thế kế kỳ hoa): nối tiếp nhau nở mùa hoa đẹp.
20. Tộc kỳ tương đại: Dòng họ ngày một lớn mạnh


BÌNH LUẬN